Archive for 10/20/13
Khắc phục lỗi Invalid signature error BADSIG khi cập nhật Ubuntu
Chủ Nhật, 20 tháng 10, 2013
Posted by Admin
Tag :
Document
Sau khi sử dụng Ubuntu được một thời gian, hệ điều hành sẽ tự động tải các gói cập nhật về hệ thống, sau đó yêu cầu người sử dụng nâng cấp phần mềm, ứng dụng bên trong. Hoặc thông thường, người sử dụng sẽ thực hiện quá trình này bằng cách gõ lệnh sau trong Terminal:
sudo apt-get clean sudo apt-get update sudo apt-get upgrade
Trong đó, lệnh clean hầu như không thực hiện chức năng gì cả, và sudo apt-get update sẽ đi kèm với thông báo lỗi như sau:
Reading package lists... Done W: A error occurred during the signature verification. The repository is not updated and the previous index files will be used. GPG error: http://extras.ubuntu.com oneiric Release: The following signatures were invalid: BADSIG 16126D3A3E5C1192 Ubuntu Extras Archive Automatic Signing Key <ftpmaster@ubuntu.com> W: A error occurred during the signature verification. The repository is not updated and the previous index files will be used. GPG error: http://archive.canonical.com oneiric Release: The following signatures were invalid: BADSIG 40976EAF437D05B5 Ubuntu Archive Automatic Signing Key <ftpmaster@ubuntu.com> W: GPG error: http://ppa.launchpad.net oneiric Release: The following signatures were invalid: BADSIG E0319082F37F3AB0 Launchpad fixes for aprsd W: GPG error: http://ppa.launchpad.net oneiric Release: The following signatures were invalid: BADSIG 73AD8184264CE9C6 Launchpad PPA for Simon Schneegans W: GPG error: http://ppa.launchpad.net oneiric Release: The following signatures were invalid: BADSIG DFB844B8BB91632D Launchpad PPA for Weather Indicator Team W: A error occurred during the signature verification. The repository is not updated and the previous index files will be used. GPG error: http://ppa.launchpad.net oneiric Release: The following signatures were invalid: BADSIG C2518248EEA14886 Launchpad VLC W: Failed to fetch http://extras.ubuntu.com/ubuntu/dists/oneiric/Release W: Failed to fetch http://archive.canonical.com/ubuntu/dists/oneiric/Release W: Failed to fetch http://ppa.launchpad.net/webupd8team/gnome3/ubuntu/dists/oneiric/Release W: Some index files failed to download. They have been ignored, or old ones used instead.
Bạn có để ý đến những dòng ở phía cuối bảng thông báo lỗi, đó chính là những phần quan trọng nhất và chúng ta sẽ phải chú ý để rút ra phương án khắc phục phù hợp. Cụ thể nó là:
W: A error occurred during the signature verification. The repository is not updated and the previous index files will be used. GPG error: http://extras.ubuntu.com oneiric Release: The following signatures were invalid: BADSIG 16126D3A3E5C1192 Ubuntu Extras Archive Automatic Signing Key <ftpmaster@ubuntu.com>
Và đây là lỗi thường gặp xảy ra trong quá trình cập nhật Ubuntu: Invalid signature error BADSIG.
Để khắc phục, các bạn hãy mở Terminal và lần lượt gõ những dòng lệnh dưới đây vào:
sudo apt-get clean cd /var/lib/apt sudo mv lists lists.old sudo mkdir -p lists/partial sudo apt-get clean sudo apt-get update
Sau đó, vấn đề của chúng ta đã được khắc phục, và Update Manager sẽ hoạt động bình thường trở lại. Chúc các bạn thành công!
Đối với người dùng Linux thì Vi – ứng dụng soạn thảo, chỉnh sửa text chính là 1 trong những công cụ hỗ trợ không thể thiếu. Không giống như Nano – ứng dụng chỉnh sửa text dưới dạngTerminal, Vi có hệ thống các phím tắt chức năng khá đa dạng và hữu ích, với 2 chế độ hoạt động chính làInsert và Command.
Bắt đầu:
Vi thực chất là 1 ứng dụng Terminal, so vậy các bạn sẽ phải khởi động từ cửa sổ Terminal tương ứng. Dùng cú pháp vi /path/to/file để mở file text có sẵn bằng Vi, và lệnh đó cũng sẽ hoạt động nếu file text được chỉ định không có sẵn, thay vào đó Vi sẽ tự tạo ra file text với tên như vậy.
Lưu ý rằng chúng ta cần phải dùng lệnh sudo nếu muốn chỉnh sửa file hệ thống, ví dụ: nếu muốn sửa file Fstabcủa hệ thống thì các bạn gõ lệnh:
sudo vi /etc/fstab
Nếu bạn dùng phiên bản hệ điều hành không phải Ubuntu của Linux thì thay thế sudo bằng su.
Chế độ Command:
Dưới đây là hỉnh ảnh khi chúng ta mở file bằng Vi, trông như có vẻ chúng ta có thể gõ ký tự vào đây, nhưng thực chất thì không phải. Vi thực chất là ứng dụng soạn thảo bằng phương thức, và được mở bằng chế độCommand:
Khi ở trong chế độ Command, chúng ta có thể di chuyển con trỏ bằng cách nhấn phím mũi tên, nhấn x để xóa ký tự ngay dưới con trỏ, còn nhấn dd để xóa toàn bộ dòng ký tự. Bên cạnh đó, các bạn có thể lựa chọn, copy, cut và lưu đoạn text trong chế độ này. Di chuyển con trỏ sang bên trái hoặc phải của ký tự cần copy và nhấn phím v, nhấn x để cắt đoạn text, sau đó đặt con trỏ vào vị trí cần di chuyển đoạn text và nhấn p để paste:
Chế độ Insert:
Đây là chế độ hoạt động của Vi cho phép người dùng chèn thêm ký tự vào văn bản. Chỉ cần nhấn nút I là chúng ta đã chuyển sang chế độ Insert sau khi xác định vị trí con trỏ trong chế độ Command:
Khi nhập xong đoạn nội dung cần thiết, nhấn phím Escape để quay về chế độ Command.
Saving và Quiting:
Các bạn có thể lưu và thoát ứng dụng trong chế độ Command (nhấn Escape để chắc chắn rằng chúng ta đã ở trong chế độ này). Gõ :wq để lưu file sau khi thay đổi và đóng Vi, hoặc thực hiện riêng rẽ thành 2 công đoạn, :w để lưu file và :q để thoát chương trình mà không lưu lại thay đổi:
Nhưng Vi sẽ không cho người dùng đóng ứng dụng nếu đã thay đổi từ lần lưu cuối cùng, gõ lệnh :q! Và nhấn Enter để bỏ qua cảnh báo này:
Chúc các bạn thành công!
Hướng dẫn khắc phục lỗi “username is not in the sudoers file...” trong Ubuntu
Posted by Admin
Tag :
Document
Ở chế độ mặc định của Ubuntu, tại khoản người dùng đầu tiên được khởi tạo trong quá trình cài đặt cũng là Administrator của hệ thống. Nếu sử dụng tài khoản này thì người đăng nhập hoàn toàn có thể thực hiện được nhiều tác vụ qua lệnh sudo – Super User Do, tất cả các tài khoản khác trong nhóm này đều đã được gán quyền quản trị cao nhất để quản lý hệ thống. Tuy nhiên, nếu bạn hoặc ai đó vô tình gỡ bỏ tài khoản của bạn khỏi nhóm sudo thì sẽ không thể làm được việc gì nữa, và thay vào đó hệ thống sẽ hiển thị thông báo lỗi như sau:
damien is not in the sudoers file. This incident will be reported
trong đó damien là tên tài khoản đang sử dụng.
Trong bài thử nghiệm của chúng ta thì các bạn gõ lệnh sau trong khi gán tài khoản vào nhóm khác:
usermod -G nogroup damien
không sử dụng tham số -a, và cũng sẽ dẫn tới việc tài khoản đang dùng bị di chuyển khỏi nhóm sudo. Trong khi vẫn có thể dùng hệ thống như 1 tài khoản người dùng bình thường thì chúng ta lại không thể cài đặt, gỡ bỏ ứng dụng hoặc cập nhật hệ thống. Và nếu bạn gặp tình huống tương tự như vậy thì hãy thực hiện theo các bước lần lượt sau để khắc phục:
- Khởi động lại hệ thống, nếu máy tính của bạn chỉ có 1 hệ điều hành Ubuntu duy nhất thì hãy nhất phím Shiftkhi khởi động. Màn hình Grub sẽ hiển thị, tại đây các bạn chọn Recovery mode như hình dưới và nhấn Enter:
Tại màn hình tiếp theo, chọn Check all file systems...
- Nhấn Enter khi hệ thống hiển thị thông báo: Finished, press Enter.
- Tiếp theo, chọn Drop to root shell prompt:

- Khi màn hình Command Prompt hiển thị, gõ lệnh:
usermod -a -G admin username
- Thay thế username với tên tài khoản đăng nhập của bạn.
- Tiếp theo, các bạn chỉ cần gõ lệnh exit và chọn Resume normal boot tại màn hình tiếp theo.
Tuy nhiên, cách xử lý trên chỉ có thể áp dụng nếu file /etc/sudoers vẫn còn nguyên vẹn, chưa bị chỉnh sửa hoặc tác động gì cả. Còn nếu file /etc/sudoers của hệ thống không còn như lúc đầu, thì các bạn hãy thực hiện thao tác giống như trên cho tới bước 3 – nhấn Enter khi hiển thị thông báo Finished. Sau đó:
- Tại giao diện dòng lệnh, chúng ta gõ:
sudo cp /etc/sudoers /etc/sudoers.backup
sudo nano /etc/sudoers
- Và nhập đoạn mã dưới đây vào file hiển thị:
#
# This file MUST be edited with the 'visudo' command as root.
#
# Please consider adding local content in /etc/sudoers.d/ instead of
# directly modifying this file.
#
# See the man page for details on how to write a sudoers file.
#
Defaults env_reset
# Host alias specification
# User alias specification
# Cmnd alias specification
# User privilege specification
root ALL=(ALL:ALL) ALL
# Members of the admin group may gain root privileges
%admin ALL=(ALL) ALL
# Allow members of group sudo to execute any command
%sudo ALL=(ALL:ALL) ALL
#includedir /etc/sudoers.d
# This file MUST be edited with the 'visudo' command as root.
#
# Please consider adding local content in /etc/sudoers.d/ instead of
# directly modifying this file.
#
# See the man page for details on how to write a sudoers file.
#
Defaults env_reset
# Host alias specification
# User alias specification
# Cmnd alias specification
# User privilege specification
root ALL=(ALL:ALL) ALL
# Members of the admin group may gain root privileges
%admin ALL=(ALL) ALL
# Allow members of group sudo to execute any command
%sudo ALL=(ALL:ALL) ALL
#includedir /etc/sudoers.d
- Nhấn Ctrl + O để lưu nội dung và Ctrl + X để đóng file.
- Tiếp theo, khởi tạo mức phân quyền mới cho file sudoers vừa tạo:
chmod 440 /etc/sudoers
- Và cuối cùng là gán tài khoản cần thiết vào nhóm sudo bằng lệnh:
usermod -a -G admin damien
Thoát khỏi Command Prompt và quay trở lại chế độ khởi động bình thường, và vấn đề trên đã được giải quyết. Chúc các bạn thành công!
- Trong bài viết dưới đây, chúng tôi sẽ giới thiệu và hướng dẫn các bạn cách cài đặt và triển khai Oracle trên nền tảng CentOS 6.2 Server. Những thao tác được mô phỏng ở đây cũng có thể áp dụng trong trường hợp triển khai Oracle Database Server hoặc Oracle Fusion Middleware Suite đối với hệ thống có nhiều server khác nhau.
Để thực hiện, các bạn cần phải chuẩn bị một số điều kiện như sau:
- Ổ lưu trữ USB với dung lượng trống tối thiểu là 4 GB.
- Máy tính có khả năng chạy được hệ điều hành 64 bit, dung lượng bộ nhớ RAM và ổ cứng cao.
- Có kết nối Internet tới repository hoặc mirror của CentOS.
- Máy tính client sử dụng hệ điều hành Linux với phiên bản Desktop của CentOS, Debian, Ubuntu... +Gnome, KDE...
Tiếp theo, các bạn tải bản iso DVD CentOS 6.2 64 bit tại đây với dung lượng khoảng 4.1 GB, bản minimal – 322 MB tại đây, netstall – 227 MB, LiveCD – 698 MB hoặc LiveDVD – 1.6 GB. Trong bài thử nghiệm này chúng tôi sử dụng bản 4.1 GB. Lưu trữ file iso vào ổ USB bằng cách này, sau đó kết nối USB với máy server và khởi động bằng chế độ USB Boot.
Màn hình cài đặt CentOS hiển thị, chúng ta chọn Server > Customize. Chọn tiếp phân vùng schema phụ thuộc vào cấu hình phần cứng của máy tính, ví dụ 6 GB RAM và 2 ổ cứng 500GB HDD:
/ ext4 60GB
/boot ext4 130M
/home xfs ~403GB
/opt xfs ~240GB
/var xfs ~210GB
swap swap 12GB
Tại các bước thiết lập tiếp theo, các bạn hãy chắc chắn rằng không lựa chọn bất cứ thành phần Desktop nào, ssh phải được cài đặt, khởi tạo mật khẩu root. Khi hoàn tất quá trình này, khởi động lại và đăng nhập bằng tài khoản root, kiểm tra lại ssh có hoạt động hay không bằng lệnh:
$ ssh localhost
Ở chế độ mặc định, eth0 sẽ bị tắt – disable. Chúng ta có thể thay đổi thiết lập bằng cách:
- Đăng nhập dưới tài khoản root.
- Tùy chỉnh /etc/sysconfig/network-scripts/ifcfg-eth0 sao cho giống với phần thông tin dưới đây:
DEVICE="eth0"
HWADDR="00:1C:C0:95:59:55"
NM_CONTROLLED="yes"
ONBOOT="yes"
NETWORK=192.168.192.0
NETMASK=255.255.255.0
IPADDR=192.168.192.201
GATEWAY=192.168.192.1
DNS1=192.168.192.2
DNS2=192.168.192.2
PEERDNS="yes"
HWADDR="00:1C:C0:95:59:55"
NM_CONTROLLED="yes"
ONBOOT="yes"
NETWORK=192.168.192.0
NETMASK=255.255.255.0
IPADDR=192.168.192.201
GATEWAY=192.168.192.1
DNS1=192.168.192.2
DNS2=192.168.192.2
PEERDNS="yes"
Khởi động lại daemon network và kiểm tra kết nối bằng lệnh ping hoặc công cụ hỗ trợ khác.Việc tiếp theo cần làm ở đây là gán thêm tài khoản sudoer – ví dụ bozz:
- Đăng nhập bằng tài khoản root.
- Tạo mới tài khoản và gán vào nhóm wheel:
$ adduser -G wheel bozz
- Thay đổi /etc/sudoers và bỏ chú thích tại tất cả các dòng bắt đầu với %wheel, chẳng hạn như sau:
%wheel ALL=(ALL) ALL
- Đăng xuất và đăng nhập bằng tài khoản bozz vừa tạo, kiểm tra mức phân quyền của sudoer:
$ sudo ls -hal
Lưu ý rằng kể từ thời điểm này, chúng ta sẽ chỉ sử dụng bozz thay vì root. Tiếp theo, thiết lập repository CentOS qua LAN mirror bằng cách:
- Đảm bảo rằng chúng ta vẫn đang kết nối tới LAN mirror, chẳng hạn như: http://mirrors.home.dev/centosbằng lệnh:
$ pushd /tmp
$ wget http://mirrors.home.dev/centos
$ popd
$ wget http://mirrors.home.dev/centos
$ popd
- Tạo mới file repo tại đường dẫn: /etc/yum.repos.d/CentOS-Mirror.repo
$ sudo nano /etc/yum.repos.d/CentOS-Mirror.repo
- Cấu hình các thành phần dưới đây trỏ tới mirror:
[base]
name=CentOS-$releasever - Base
baseurl=http://mirrors.home.dev/centos/$releasever/os/$basearch/
gpgcheck=0
#released updates
[updates]
name=CentOS-$releasever - Updates
baseurl=http://mirrors.home.dev/centos/$releasever/updates/$basearch/
gpgcheck=0
#additional packages that may be useful
[extras]
name=CentOS-$releasever - Extras
baseurl=http://mirrors.home.dev/centos/$releasever/extras/$basearch/
gpgcheck=0
name=CentOS-$releasever - Base
baseurl=http://mirrors.home.dev/centos/$releasever/os/$basearch/
gpgcheck=0
#released updates
[updates]
name=CentOS-$releasever - Updates
baseurl=http://mirrors.home.dev/centos/$releasever/updates/$basearch/
gpgcheck=0
#additional packages that may be useful
[extras]
name=CentOS-$releasever - Extras
baseurl=http://mirrors.home.dev/centos/$releasever/extras/$basearch/
gpgcheck=0
- Đặt ký hiệu chú thích # tại tất cả các dòng trong /etc/yum.repos.d/CentOS-Base.repo hoặc xóa file repo đó.
- Cập nhật hệ thống qua mirror:
$ sudo yum update
File hệ thống có thể coi là 1 trong các lớp bên dưới hệ điều hành mà nhiều lúc người sử dụng chúng ta không hề nghĩ tới, trừ trường hợp phải đối mặt với rất nhiều tùy chọn về file system trong Linux. Trong bài viết dưới đây, chúng tôi sẽ giới thiệu với các bạn một số điểm cơ bản để hiểu rõ và nắm bắt kiến thức nhằm lựa chọn file system phù hợp với hệ thống.
Khả năng hỗ trợ của file hệ thống Linux hoàn toàn khác biệt so với Windows và Mac OS X. Cụ thể, trongWindows hoặc Mac OS X, chúng ta có thể dễ dàng tìm được các ứng dụng hỗ trợ file hệ thống non standard, nhưng cả 2 hệ điều hành trên lại chỉ được cài đặt dựa trên file system nguyên gốc. Nếu nói theo cách khác,Linux có khả năng hỗ trợ nhiều loại file hệ thống nhất hiện nay với công nghệ được tích hợp vào bên trong bộkernel.
Journaling là gì?
Điểm trước tiên cần tìm hiểu ở đây chính là Journaling trước khi chúng ta nghiên cứu kỹ hơn về vấn đề này. Điều duy nhất các bạn cần nhớ về journaling là tất cả các loại file hệ thống ngày nay đều phải sử dụngjournaling theo nhiều dạng khác nhau trên nền tảng laptop hoặc desktop với Linux.
Journaling chỉ được sử dụng khi ghi dữ liệu lên ổ cứng và đóng vai trò như những chiếc đục lỗ để ghi thông tin vào phân vùng. Đồng thời, nó cũng khắc phục vấn đề xảy ra khi ổ cứng gặp lỗi trong quá trình này, nếu không có journal thì hệ điều hành sẽ không thể biết được file dữ liệu có được ghi đầy đủ tới ổ cứng hay chưa.
Chúng ta có thể hiểu nôm na như sau: trước tiên file sẽ được ghi vào journal, đẩy vào bên trong lớp quản lý dữ liệu, sau đó journal sẽ ghi file đó vào phân vùng ổ cứng khi đã sẵn sàng. Và khi thành công, file sẽ được xóa bỏ khỏi journal, đẩy ngược ra bên ngoài và quá trình hoàn tất. Nếu xảy ra lỗi trong khi thực hiện thì file hệ thống có thể kiểm tra lại journal và tất cả các thao tác chưa được hoàn tất, đồng thời ghi nhớ lại đúng vị trí xảy ra lỗi đó.
Tuy nhiên, nhược điểm của việc sử dụng journaling là phải “đánh đổi” hiệu suất trong việc ghi dữ liệu với tính ổn định. Bên cạnh đó, còn có nhiều công đoạn khác để ghi dữ liệu vào ổ cứng nhưng với journal thì quá trình không thực sự là như vậy. Thay vào đó thì chỉ có file metadata, inode hoặc vị trí của file được ghi lại trước khi thực sự ghi vào ổ cứng.
Các tùy chọn file system:
Như đã đề cập tới ở bên trên, có khá nhiều dạng file hệ thống trong Linux, và mỗi loại sẽ được áp dụng với từng mục đích riêng biệt. Điều này không có nghĩa rằng những file hệ thống này không thể được áp dụng trong trường hợp khác, mà tùy theo nhu cầu và mục đích của người sử dụng, chúng ta sẽ đưa ra phương án phù hợp.
- Ext – Extended file system: là định dạng file hệ thống đầu tiên được thiết kế dành riêng cho Linux. Có tổng cộng 4 phiên bản và mỗi phiên bản lại có 1 tính năng nổi bật. Phiên bản đầu tiên của Ext là phần nâng cấp từ file hệ thống Minix được sử dụng tại thời điểm đó, nhưng lại không đáp ứng được nhiều tính năng phổ biến ngày nay. Và tại thời điểm này, chúng ta không nên sử dụng Ext vì có nhiều hạn chế, không còn được hỗ trợ trên nhiều distribution.
- Ext2 thực chất không phải là file hệ thống journaling, được phát triển để kế thừa các thuộc tính của file hệ thống cũ, đồng thời hỗ trợ dung lượng ổ cứng lên tới 2 TB. Ext2 không sử dụng journal cho nên sẽ có ít dữ liệu được ghi vào ổ đĩa hơn. Do lượng yêu cầu viết và xóa dữ liệu khá thấp, cho nên rất phù hợp với những thiết bị lưu trữ bên ngoài như thẻ nhớ, ổ USB... Còn đối với những ổ SSD ngày nay đã được tăng tuổi thọ vòng đời cũng như khả năng hỗ trợ đa dạng hơn, và chúng hoàn toàn có thể không sử dụng file hệ thống không theo chuẩn journaling.
- Ext3 về căn bản chỉ là Ext2 đi kèm với journaling. Mục đích chính của Ext3 là tương thích ngược với Ext2, và do vậy những ổ đĩa, phân vùng có thể dễ dàng được chuyển đổi giữa 2 chế độ mà không cần phải format như trước kia. Tuy nhiên, vấn đề vẫn còn tồn tại ở đây là những giới hạn của Ext2 vẫn còn nguyên trong Ext3, và ưu điểm của Ext3 là hoạt động nhanh, ổn định hơn rất nhiều. Không thực sự phù hợp để làm file hệ thống dành cho máy chủ bởi vì không hỗ trợ tính năng tạo disk snapshot và file được khôi phục sẽ rất khó để xóa bỏ sau này.
- Ext4: cũng giống như Ext3, lưu giữ được những ưu điểm và tính tương thích ngược với phiên bản trước đó. Như vậy, chúng ta có thể dễ dàng kết hợp các phân vùng định dạng Ext2, Ext3 và Ext4 trong cùng 1 ổ đĩa trongUbuntu để tăng hiệu suất hoạt động. Trên thực tế, Ext4 có thể giảm bớt hiện tượng phân mảnh dữ liệu trong ổ cứng, hỗ trợ các file và phân vùng có dung lượng lớn... Thích hợp với ổ SSD so với Ext3, tốc độ hoạt động nhanh hơn so với 2 phiên bản Ext trước đó, cũng khá phù hợp để hoạt động trên server, nhưng lại không bằngExt3.
- BtrFS – thường phát âm là Butter hoặc Better FS, hiện tại vẫn đang trong giai đoạn phát triển bởi Oracle và có nhiều tính năng giống với ReiserFS. Đại diện cho B-Tree File System, hỗ trợ tính năng pool trên ổ cứng, tạo và lưu trữ snapshot, nén dữ liệu ở mức độ cao, chống phân mảnh dữ liệu nhanh chóng... được thiết kế riêng biệt dành cho các doanh nghiệp có quy mô lớn.
Mặc dù BtrFS không hoạt động ổn định trên 1 số nền tảng distro nhất định, nhưng cuối cùng thì nó vẫn là sự thay thế mặc định của Ext4 và cung cấp chế độ chuyển đổi định dạng nhanh chóng từ Ext3/4. Do vậy, BtrFS rất phù hợp để hoạt động với server dựa vào hiệu suất làm việc cao, khả năng tạo snapshot nhanh chóng cũng như hỗ trợ nhiều tính năng đa dạng khác.
Bên cạnh đó, Oracle cũng đang cố gắng phát triển 1 nền tảng công nghệ nhằm thay thế cho NFS và CIFS gọi làCRFS với nhiều cải tiến đáng kể về mặt hiệu suất và tính năng hỗ trợ. Những cuộc kiểm tra trên thực tế đã chỉ ra BtrFS đứng sau Ext4 khi áp dụng với các thiết bị sử dụng bộ nhớ Flash như SSD, server database...
- ReiserFS: có thể coi là 1 trong những bước tiến lớn nhất của file hệ thống Linux, lần đầu được công bố vào năm 2001 với nhiều tính năng mới mà file hệ thống Ext khó có thể đạt được. Nhưng đến năm 2004, ReiserFSđã được thay thế bởi Reiser4 với nhiều cải tiến hơn nữa. Tuy nhiên, quá trình nghiên cứu, phát triển củaReiser4 khá “chậm chạp” và vẫn không hỗ trợ đầy đủ hệ thống kernel của Linux. Đạt hiệu suất hoạt động rất cao đối với những file nhỏ như file log, phù hợp với database và server email.
- XFS được phát triển bởi Silicon Graphics từ năm 1994 để hoạt động với hệ điều hành riêng biệt của họ, và sau đó chuyển sang Linux trong năm 2001. Khá tương đồng với Ext4 về một số mặt nào đó, chẳng hạn như hạn chế được tình trạng phân mảnh dữ liệu, không cho phép các snapshot tự động kết hợp với nhau, hỗ trợ nhiều file dung lượng lớn, có thể thay đổi kích thước file dữ liệu... nhưng không thể shrink – chia nhỏ phân vùng XFS. Với những đặc điểm như vậy thì XFS khá phù hợp với việc áp dụng vào mô hình server media vì khả năng truyền tải file video rất tốt. Tuy nhiên, nhiều phiên bản distributor yêu cầu phân vùng /boot riêng biệt, hiệu suất hoạt động với các file dung lượng nhỏ không bằng được khi so với các định dạng file hệ thống khác, do vậy sẽ không thể áp dụng với mô hình database, email và một vài loại server có nhiều file log. Nếu dùng với máy tính cá nhân, thì đây cũng không phải là sự lựa chọn tốt nên so sánh với Ext, vì hiệu suất hoạt động không khả thi, ngoài ra cũng không có gì nổi trội về hiệu năng, quản lý so với Ext3/4.
- JFS được IBM phát triển lần đầu tiên năm 1990, sau đó chuyển sang Linux. Điểm mạnh rất dễ nhận thấy củaJFS là tiêu tốn ít tài nguyên hệ thống, đạt hiệu suất hoạt động tốt với nhiều file dung lượng lớn và nhỏ khác nhau. Các phân vùng JFS có thể thay đổi kích thước được nhưng lại không thể shrink như ReiserFS và XFS, tuy nhiên nó lại có tốc độ kiểm tra ổ đĩa nhanh nhất so với các phiên bản Ext.
- ZFS hiện tại vẫn đang trong giai đoạn phát triển bởi Oracle với nhiều tính năng tương tự như Btrfs vàReiserFS. Mới xuất hiện trong những năm gần đây vì có tin đồn rằng Apple sẽ dùng nó làm file hệ thống mặc định. Phụ thuộc vào thỏa thuận điều khoản sử dụng, Sun CDDL thì ZFS không tương thích với hệ thống nhân kernel của Linux, tuy nhiên vẫn hỗ trợ toàn bộ Linux’s Filesystem in Userspace – FUSE để có thể sử dụng được ZFS. Người sử dụng có thể gặp khó khăn khi cài đặt hệ điều hành Linux vì có yêu cầu FUSE và có thể không được hỗ trợ bởi distributor.
- Swap có thể coi thực sự không phải là 1 dạng file hệ thống, bởi vì cơ chế hoạt động khá khác biệt, được sử dụng dưới 1 dạng bộ nhớ ảo và không có cấu trúc file hệ thống cụ thể. Không thể kết hợp và đọc dữ liệu được, nhưng lại chỉ có thể được dùng bởi kernel để ghi thay đổi vào ổ cứng. Thông thường, nó chỉ được sử dụng khi hệ thống thiếu hụt bộ nhớ RAM hoặc chuyển trạng thái của máy tính về chế độ Hibernate.
Trên đây là một số thông tin cơ bản về cấu trúc file hệ thống trong Linux, hy vọng rằng có thể giúp các bạn hiểu rõ hơn về hệ điều hành mã nguồn mở này cũng như kinh nghiệm lựa chọn file system sao cho phù hợp với nhu cầu, mục đích sử dụng. Chúc các bạn thành công!
Có nhiều lý do để bạn cần kết nối tới một VPN. Có thể bạn cần kết nối vào mạng công sở để truy cập những tài liệu tuyệt mật của công ty từ máy tại gia, hay cần một địa chỉ IP ở Mỹ để xem Hulu và nghe Pandora. Dù với lý do gì thì bạn đều có thể dễ dàng cấu hình một kết nối VPN trong Ubuntu mà không đòi hỏi cài đặt nào bổ sung.
Lưu ý: Bài viết giả sử VPN kết nối vào đang sử dụng giao thức PPTP và không có tác dụng với một kết nối sử dụng L2TP.
1. Trên màn hình Ubuntu, vào System Settings -> Network.
2. Trong cửa sổ Network, kích nút + ở góc dưới cùng bên trái.
3. Chọn VPN trong giao diện xổ xuống. Kích Create.
4. Chọn PPTP làm kiểu kết nối VPN (trong hầu hết trường hợp, chỉ có duy nhất một lựa chọn ở đây). KíchCreate.
5. Đặt tên cho kết nối VPN và nhập thông tin chi tiết cho kết nối.
Với một số kết nối VPN, người dùng có thể cần phải chọn phương thức xác thực phù hợp. Kích nút Advancedvà đánh dấu hay bỏ dấu phương thức xác thự được yêu cầu cho VPN. Trong hầu hết trường hợp, người dùng sẽ phải vô hiệu hóa MSCHAP và kích hoạt tùy chọn Use Point-to-Point encryption (MPPE) và chọn chế độ bảo mật mã hóa 128 bit, nhưng điều này có thể thay đổi với mỗi kết nối VPN.
Cuối cùng, kích OK và Save để đóng cửa sổ trước.
6. Cuối cùng, kích Save. Bây giờ bạn đã có thể kết nối vào VPN này bằng cách kích vào biểu tượng wireless dưới khay hệ thống (system tray).
Vậy là, từ Ubuntu, bạn đã tạo được một kết nối VPN bảo mật. Chúc các bạn thành công!
Phiên bản Ubuntu 12.04 mặc định không có tùy chọn Hibernate trong thực đơn hệ thống. Tùy chọn này bị vô hiệu hóa do những lo ngại liên quan đến cấu hình hệ thống mà nó có thể gây ra. Tuy vậy, bạn vẫn có thể kích hoạt lại chế độ này nếu muốn.
Bạn nên thực hiện “ngủ đông” với một lệnh đặc biệt để kiểm tra thử xem chế độ có hoạt động chính xác không trước khi kích hoạt lại trong thực đơn hệ thống.
Chế độ Hibernate và chế độ Suspend
Tùy chọn Suspend vẫn xuất hiện trong thực đơn hệ thống của Ubuntu. Giống như Hibernate, Suspend cũng cho phép lưu các chương trình và dữ liệu mở, vì thế người dùng có thể tiếp tục trở lại trạng thái trước đó của hệ thống một cách nhanh chóng. Tuy nhiên, ở chế độ này, máy tính vẫn tiêu thụ một lượng nhỏ điện năng và phụ thuộc nguồn điện do dữ liệu được lưu trong RAM. Nếu mất điện - chẳng hạn như, nếu bạn rút dây nguồn khỏi ổ cắm điện hay laptop cạn pin thì dữ liệu sẽ mất.
Ngược lại, ở chế độ Hibernate, máy sẽ lưu trạng thái hệ thống vào ổ đĩa cứng và tắt máy nên không tiêu thụ điện. Khi tiếp tục hoạt động từ chế độ Hibernate, các chương trình và dữ liệu mở sẽ được khôi phục lại. Hibernate giúp tiết kiệm điện nhưng làm mất thời gian khởi động lại hơn do máy tính phải khôi phục dữ liệu vào RAM, trong khi trong chế độ Suspend, dữ liệu được để luôn trong RAM.
Vì sao vô hiệu hóa Hibernate?
Tùy chọn Hibernate không hoạt động chuẩn xác trên nhiều cấu hình phần cứng với Ubuntu và những bản phân phối Linux khác. Nếu Hibernate không hoạt động đúng trên hệ thống, người dùng có thể bị mất dữ liệu. Một số driver phần cứng có thể cũng không hoạt động đúng trong chế độ Hibernate. Ví dụ như, phần cứng Wi-Fi hay các thiết bị khác có thể không hoạt động sau khi “thức dậy” từ Hibernate.
Để tránh cho những người dùng mới phải đối mặt với những lỗi này và gây mất mát dữ liệu, tùy chọn Hibernate đã bị vô hiệu hóa một cách mặc định.
Kiểm tra Hibernate
Trước khi kích hoạt lại chế độ, người dùng nên kiểm tra để xác nhận nó hoạt động chính xác trên máy của mình. Trước hết, hãy lưu dữ liệu trong tất cả những chương trình mở phòng trường hợp Hibernate không hoạt động chuẩn xác trên máy.
Để kiểm tra chế độ, khởi chạy một cửa sổ lệnh. Gõ terminal vào Dash hoặc sử dụng tổ hợp phím Ctrl + Alt + T.
Trong cửa sổ lệnh, chạy câu lệnh sau:
sudo pm-hibernate
Hệ thống sẽ tắt. Sau khi chạy lệnh, bật lại máy lên. Nếu các chương trình mở xuất hiện trở lại tức chế độ Hibernate hoạt động chuẩn xác.
Sửa lỗi Hibernate
Trong khi sự không tương thích phần cứng là vấn đề chính với Hibernate thì cũng có một vấn đề thường gặp khác. Hibernate lưu nội dung RAM tới phân khu hoán đổi (swap partition). Do đó, phân khu hoán đổi phải có dung lượng ít nhất bằng với dung lượng RAM. Nếu có một phân khu 2GB và RAM 4GB, Hibernate sẽ không hoạt động chính xác nữa.
Một cách nhanh chóng để so sánh dung lượng RAM và phân khu hoán đổi là dùng ứng dụng System Monitor.
Người dùng có thể xem kích thước RAM và phân khu trên thẻ Resources.
Nếu phân khu có dung lượng nhỏ hơn RAM, hãy thử chạy Gparted từ một CD. Người dùng có thể chạy Gparted từ một đĩa live trên Ubuntu hay một CD Gparted dành riêng. Từ CD, người dùng có thể định cỡ cho các phân khu trên Ubuntu. Quá trình chỉ diễn ra khi các phân khu đang không được sử dụng.
Kích hoạt lại Hibernate
Người dùng có thể chạy lệnh sudo pm-hibernate cứ khi nào muốn kích hoạt chế độ Hibernate cho máy, nhưng cách này không thuận tiện cho lắm. Để kích hoạt tùy chọn trong thực đơn, ta sẽ phải tạo một file PolicyKit.
Sử dụng bất cứ trình biên tập văn bản nào để tạo. Ở đây chúng ta sử dụng gedit. Chạy lệnh sau để khởi chạy gedit dưới quyền quản trị và chỉ định file muốn tạo:
gksu gedit /etc/polkit-1/localauthority/50-local.d/com.ubuntu.enable-hibernate.pkla
Dán đoạn văn bản sau vào file:
[Enable Hibernate]
Identity=unix-user:*
Action=org.freedesktop.upower.hibernate
ResultActive=yes
Identity=unix-user:*
Action=org.freedesktop.upower.hibernate
ResultActive=yes
Lưu file văn bản, sau đó đăng xuất rồi đăng nhập trở lại. Bạn sẽ thấy tùy chọn Hibernate xuất hiện trong thực đơn hệ thống
Ubuntu và Linux Mint là 2 hệ điều hành khá nổi tiếng trong cộng đồng sử dụng Linux hiện nay. Nếu bạn chuẩn bị chuyển sang sử dụng Linux và đang phân vân không biết lựa chọn hệ điều hành nào; hay bạn đang sử dụng một trong hai hệ điều hành này và không biết sự khác biệt giữa chúng là gì thì bài viết sau đây sẽ giúp hiểu rõ hơn về hai hệ điều hành này.
Lịch sử hình thành
Linux là một hệ điều hành mã nguồn mở và bất kỳ ai cũng có thể chỉnh sửa, tùy biến theo ý thích của họ, Ubuntu và Mint là hai hệ điều hành được sinh ra từ đó. Phiên bản ổn định đầu tiên của Linux Mint có tên mã là Barbara được phát hành vào năm 2006, ngay lập tức tạo nên sự khác biệt so với Ubuntu. Nếu trên Ubuntu chỉ được đính kèm một số phần mềm mở làm mặc định trong bộ cài đặt và người dùng có thể thêm các tiện ích được phân phối trong Ubuntu Software Center thì ở Linux Mint đa dạng hơn bởi trong Mint có sẵn các công cụ độc quyền như Flash hay Java. Điều mà người dùng thích thú Linux Mint hơn Ubuntu chính là việc hỗ trợ các phần mềm mặc định trong bộ cài đặt hầu như là đủ dùng cho nhu cầu bình thường.
Giao diện người dùng
Đối với Ubuntu người dùng được quy định sẵn khuôn mẫu cho giao thức người dùng. Cho dù bạn có cài đặt các gói giao diện khác nhau chăng nữa thì cũng không khác nhau là mấy về phương diện sử dụng.
Trong khi đó Linux Mint có 2 giao thức rõ ràng là Cinnamon và MATE. Đố với Cinnamon là giao thức mà mọi tác vụ đều được gom vào một menu, từ menu này bạn có thể lựa chọn hầu hết những gì mà Mint cung cấp.
MATE tương tự như GNOME 2 trong Ubuntu, cách sử dụng hầu như không có sự khác biệt.
Xét về tính thẩm mỹ thì Mint có phần hơn Ubuntu cùng với các nút cửa sổ được đặt bên phải thay vì bên trái như Ubuntu.
Các ứng dụng độc quyền
Trong Mint đã bao gồm các phần mềm độc quyền như Flash hay Java và người dùng có thể thêm các mã code tùy ý, và đây chính là sự khác biệt của Mint. Trong khi đó trong Ubuntu bạn có thể lựa chọn những gì mình muốn có, để rồi Ubuntu sẽ tự động tải về những thứ cần thiết trong quá trình cài đặt.
Cấu hình
Mint hướng đến người dùng Linux chuyên nghiệp do đó nó bao gồm nhiều thành phần cấu hình hơn, trong khi Ubuntu giới hạn một số tùy chỉnh được cung cấp sẵn.
Phiên bản mới nhất của Mint có mã là Maya, bao gồm tiện ích quản lý MDM dựa trên GNOME Display Manager cũ. Ubuntu không hề có bất cứ tiện ích tùy chỉnh đồ họa nào kể cả tùy chỉnh màn hình đăng nhập trong khi với Mint người dùng có thể tùy chỉnh màn hình đăng nhập.
Phiên bản mới nhất của Ubuntu chính là sự pha trộn nhiều thành phần trong quá khứ lại để tạo nên cái mới, trong khi Linux Mint vẫn giữ vững hướng đi đã có.
Bạn đã nhận được câu trả lời cho sự khác biệt chưa? Bạn sẽ chọn Ubuntu hay Linux Mint?
Ubuntu có một tường lửa riêng gọi là ufw (uncomplicated firewall). Ufw là một giao diện dễ sử dụng cho các lệnh chuẩn trong iptables của Linux. Bạn còn có thể quản lý ufw thông qua giao diện đồ họa.
Tường lửa trong Ubuntu được xây dựng để đơn giản hóa các tác vụ tường lửa cơ bản cho người dùng mà không cần học iptables. Mặc dù không mạnh mẽ bằng những câu lệnh iptables chuẩn nhưng bù lại, nó ít phức tạp cho người dùng.
Kích hoạt tường lửa
Tường lửa mặc định bị vô hiệu hóa. Để kích hoạt tường lửa, nhập câu lệnh sau từ cửa sổ lệnh:
sudo ufw enable
Người dùng không cần thiết phải kích hoạt tường lửa trước. Có thể thêm những luật (rule) khi tường lửa chưa kích hoạt và kích hoạt nó sau khi cấu hình xong.
Đặt luật cho tường lửa
Giả sử ta muốn cho phép lưu lượng SSH qua cổng 22. Để làm điều này, hãy sử dụng một trong số những câu lệnh sau:
sudo ufw allow 22 (Cho phép cả lưu lượng UDP và TCP)
sudo ufw allow 22/tcp (Chỉ cho phép lưu lượng TCP)
sudo ufw allow ssh (Kiểm tra trong file /etc/services trên hệ thống để tìm cổng mà SSH yêu cầu và cho phép nó. Nhiều service phổ biến được liệt kê trong file này)
sudo ufw allow 22/tcp (Chỉ cho phép lưu lượng TCP)
sudo ufw allow ssh (Kiểm tra trong file /etc/services trên hệ thống để tìm cổng mà SSH yêu cầu và cho phép nó. Nhiều service phổ biến được liệt kê trong file này)
Ufw giả sử người dùng muốn đặt luật cho lưu lượng đến, nhưng ta cũng có thể quy định hướng lưu lượng. Ví dụ như, để chặn lưu lượng SSH ra mạng, gõ câu lệnh sau:
sudo ufw reject out ssh
Để xem tất cả những luật đã được tạo ra, ta sử dụng câu lệnh sau:
sudo ufw status
Để xóa một luật, thêm từ khóa delete trước luật đó. Ví dụ như, để dừng hành động chặn lưu lượng SSH ra ngoài mạng, sử dụng câu lệnh sau:
sudo ufw delete reject out ssh
Ufw cho phép đặt những luật khá phức tạp. Ví dụ như, luật sau đây từ chối lưu lượng TCP từ địa chỉ IP 12.34.56.78 đến cổng 22 trên máy cục bộ:
sudo ufw deny proto tcp from 12.34.56.78 to any port 22
Để đặt lại tường lửa về trạng thái mặc định, sử dụng câu lệnh:
sudo ufw reset
Các ứng dụng
Một số ứng dụng cần những cổng mở thì được lưu trong profile của ufw để hoạt động dễ dàng hơn. Để xem thông tin chi tiết về ứng dụng có trên máy cục bộ, sử dụng câu lệnh sau:
sudo ufw app list
Xem thông tin chi tiết và và những luật kèm theo bằng câu lệnh:
sudo ufw app info Name
Cho phép ứng dụng bằng câu lệnh sau:
sudo ufw allow Name
Thông tin thêm
Cơ chế lưu (logging) bị vô hiệu hóa mặc định, nhưng nếu muốn, người dùng vẫn có thể kích hoạt logging để lưu những thông báo của tường lửa vào nhật ký hệ thống (sys log):
sudo ufw logging on
Để tìm hiểu thêm thông tin về ufw, chạy câu lệnh man ufw để đọc trang hướng dẫn về ufw.
Giao diện đồ họa GUFW
GUFW là giao diện đồ họa cho ufw. Ubuntu không có giao diện đồ họa mà gufw có trong kho dữ liệu phần mềm của Ubuntu. Người dùng có thể cài đặt nó bằng câu lệnh:
sudo apt-get install gufw
GUFW xuất hiện trong Dash dưới dạng một ứng dụng có tên Firewall Configuration. Giống như ufw, GUFW cung cấp một giao diện thân thiện và dễ sử dụng cho người dùng. Bạn có thể dễ dàng kích hoạt hoặc tắt tường lửa, điều khiển chính sách mặc định cho lưu lượng vào ra và thêm luật.
Trình biên tập luật có thể được sử dụng để thêm những luật đơn giản hoặc phức tạp.
Hãy nhớ rằng, bạn không thể làm mọi thứ với ufw. Đối với những tác vụ phức tạp hơn liên quan đến tường lửa, ta sẽ phải sử dụng iptables.
Nếu sở hữu một kết nối Internet có dây, bạn có thể tạo một mạng không dây ad-hoc với Ubuntu và chia sẻ kết nối Internet cho nhiều thiết bị. Ubuntu có một công cụ thiết lập dễ dàng với giao diện đồ họa.
Không may là, vẫn còn một số hạn chế. Nhiều thiết bị không hỗ trợ các mạng không dây ad-hoc và Ubuntu chỉ có thể tạo những hotspot không dây với WEP chứ không phải WPA.
Thiết lập
Để bắt đầu, hãy kích vào biểu tượng bánh răng trên panel và chọn System Settings.
Chọn panel điều khiển Network trong cửa sổ System Setting của Ubuntu. Người dùng cũng có thể thiết lập một hotspot không dây bằng cách kích vào thực đơn mạng và chọn Edit Network Connections, nhưng quá trình này phức tạp hơn.
Nếu muốn chia sẻ một kết nối Internet không dây, người dùng bắt buộc phải sở hữu một kết nối có dây. Không thể chia sẻ qua mạng Wi-Fi vì khi tạo một hotspot Wi-Fi, ta sẽ bị ngắt kết nối khỏi mạng không dây hiện tại.
Để tạo hotspot, chọn tùy chọn Wireless và kích vào nút Use as Hotspot… cuối cửa sổ.
Kết nối với mạng hiện tại sẽ bị ngắt. Ta có thể vô hiệu hóa hotspot sau đó bằng cách kích vào nút Stop Hotspottrong cửa sổ này hoặc chọn một mạng không dây khác từ thực đơn mạng trên panel Ubuntu.
Sau khi kích vào Create Hotspot, một thông báo hiện ra chỉ thị rằng laptop giờ đây đang được sử dụng làm một điểm truy cập ad-hoc. Các thiết bị khác có thể kết nối mạng này sử dụng tên mạng mặc định là “ubuntu” và khóa bảo mật hiện lên trong cửa sổ Network. Tuy nhiên, ta cũng có thể kích vào nút Options để tùy biến hotspot không dây.
Từ thẻ Wireless, đặt tên cho mạng sử dụng trường SSID. Cũng có thể thay đổi những thông số thiết lập khác từ đây. Tích vào hộp Connect automatically cho phép sử dụng hotspot làm mạng không dây mặc định. Khi khởi động máy, Ubuntu sẽ tạo hotspot thay vì kết nối tới một mạng không dây.
Từ thẻ Wireless Security, thay đổi khóa bảo mật và phương thức bảo mật. Không có tùy chọn mã hóa bảo mật WPA ở đây vì thế ta sẽ phải chọn WEP.
Tùy chọn “Shared other computers” trên thẻ Ipv4 Settings cho phép Ubuntu chia sẻ kết nối Internet với các máy tính khác kết nối vào hotspot.
Kể cả khi không có kết nối Internet không dây để chia sẻ, bạn vẫn có thể nối các máy tính với nhau và thực hiện truyền thông giữa chúng để chia sẻ file chẳng hạn.