Posted by : Admin Thứ Sáu, 1 tháng 11, 2013


Trong trường hợp ta viết một chương trình rất lớn được cấu thành bởi từ nhiều file, việc biên dịch sẽ rất phức tạp vì phải viết các dòng lệnh gcc rất là dài. Để khắc phục tình trạng này, công cụ GNU make đã được đưa ra. GNU make được giải quyết bằng cách chứa tất cả các dòng lệnh phức tạp đó trong một file gọi là makefile.
Làm thế nào gcc biết chia loại đặc biệt của file? Nó dựa vào đuôi mở rộng của file ở trên để xác định rõ phải xử lý file như thế nào cho dúng. Hầu hết những đuôi mở rộng thông thường và chú thích của chúng được liệt kê trong bảng dưới.

Các phần mở rộng của tên file đối với gcc.
Liên kết file đối tượng, và cuối cùng tạo ra mã nhị phân:
Trong trường hợp , ta chỉ muốn tạo ra các file obj, và như vậy thì bước liên kết là không cần thiết.
Hầu hết các chương trình C chứa nhiều file nguồn thì mỗi file nguồn đó đều phải được biên dịch sang mã obj trước khi tới bước liên kết cuối cùng. Giả sử có một ví dụ, ta đang làm việc trên killerapp.c là chương trình sử dụng phần mã của helper.c, như vậy để biên dịch killerapp.c ta phải dùng dòng lệnh sau:
gcc qua lần lượt các bước tiền xử lý - biên dịch - liên kết, lúc này tạo ra các file obj cho mỗi file nguồn trước khi tạo ra mã nhị phân cho killerapp.
Một số tuỳ chọn dòng lệnh của gcc:
-o FILE : Chỉ định tên file output; không cần thiết khi biên dịch sang mã obj. Nếu FILE không được chỉ rõ thì tên mặc định sẽ là a.out.
-c : Biên dịch không liên kết.
-DF00= BAR: Định nghĩa macro tiền xử lý đặt tên F00 với một giá trị của BAR trên dòng lệnh.
-IDI RNAME : Trước khi chưa quyết định được DIRNAME hãy tìm kiếm những file include trong danh sách các thư mục (tìm trong danh sách các đường dẫn thư mục).
-LDIRNAME: Trước khi chưa quyết định được DIRNAME hãy tìm kiếm những file thư viện trong danh sách các thư mục. Với mặc định gcc liên kết dựa trên những thư viện dùng chung.
-static: Liên kết dựa trên những thư viện tĩnh.
-lF00: Liên kết dựa trên libF00.
-g: Bao gồm chuẩn gỡ rối thông tin mã nhị phân.
-ggd b: Bao gồm tất cả thông tin mã nhị p hân mà chỉ có chương trình gỡ rối GNU- gdb mới có thể hiểu được.
-O: Tối ưu hoá mã biên dịch.
-ON: Chỉ định một mức tối ưu hoá mã N, 0<=N<=3.
-ANSI: Hỗ trợ chuẩn ANSI/ISO của C, loại bỏ những mở rộng của GNU mà xung đột với chuẩn( tuỳ chọn này không bảo đảm mã theo ANSI).
-pedantic: Cho ra tất cả những cảnh báo quy định bởi chuẩn.
-pedantic-erors: Thông báo ra tất cả các lỗi quy định bởi chuẩn ANSI/ISO của C.
-traditional: Hỗ trợ cho cú pháp ngôn ngữ C của Kernighan và Ritchie (giống như cú pháp định nghĩa hàm kiểu cũ).
-w: Chặn tất cả thông điệp cảnh báo.
-Wall: Thông báo ra tất cả những cảnh báo hữu ích thông thường mà gcc có thể cung cấp.
-werror: Chuyển đổi tất cả những cảnh báo sang lỗi mà sẽ làm ngưng tiến trình biên dịch.
-MM: Cho ra một danh sách sự phụ thuộc tương thích được tạo.
-v: Hiện ra tất cả các lệnh đã sử dụng trong mỗi bước của tiến trình biên dịch.
3.2. Công cụ GNU make:
Trong trường hợp ta viết một chương trình rất lớn được cấu thành bởi từ nhiều file, việc biên dịch sẽ rất phức tạp vì phải viết các dòng lệnh gcc rất là dài. Để khắc phục tình trạng này, công cụ GNU make đã được đưa ra. GNU make được giải quyết bằng cách chứa tất cả các dòng lệnh phức tạp đó trong một file gọi là makefile. Nó cũng làm tối ưu hóa quá trình dịch bằng cách phát hiện ra những file nào có thay đổi thì nó mới dịch lại, còn file nào không bị thay đổi thì nó sẽ không làm gì cả, vì vậy thời gian dịch sẽ được rút ngắn.
Một makefile là một cơ sở dữ liệu văn bản chứa cách luật, các luật này sẽ báo cho chương trình make biết phải làm gì và làm như thế nào. Một luật bao gồm các thành phần như sau:
• Đích (target) - cái mà make phải làm.
• Một danh sách các thành phần phụ thuộc (dependencies) cần để tạo ra đích.
• Một danh sách các câu lệnh để thực thi trên các thành phần phụ thuộc.
Khi được gọi, GNU make sẽ tìm các file có tên là GNUmakefile, makefile hay Makefile. Các luật sẽ có cú pháp như sau:
Target thường là một file như file khả thi hay file object ta muốn tạo ra. Dependency là một danh sách các file cần thiết như là đầu vào để tạo ra target. Command là các bước cần thiết (chẳng hạn như gọi chương trình dịch) để tạo ra target.
Dưới đây là một ví dụ về một makefile về tạo ra một chương trình khả thi có tên là editor (số hiệu dòng chỉ đưa vào để tiện theo dõi, còn nội dung của makefile không chứa số hiệu dòng).
Chương trình này được tạo ra bởi một số các file nguồn: editor.c, editor.h, keyboard.h, screen.h, screen.c, keyboard.c.
Để biên dịch chương trình này ta chỉ cần ra lệnh make trong thư mục chứa file này.
Trong makefile này chứa tất cả 5 luật, luật đầu tiên có đích là editor được gọi là đích ngầm định. Đây chính là file mà make sẽ phải tạo ra, editor có 3 dependencies editor.o, screen.o, keyboard.o. Tất cả các file này phải tồn tại thì mới tạo ra được đích trên. Dòng thứ 2 là lệnh mà make sẽ gọi thực hiện để tạo ra đích trên. Các dòng tiếp theo là các đích và các lệnh tương ứng để tạo ra các file đối tượng (object).
3.3. Làm việc với File:
Trong Linux, để làm việc với file ta sử dụng mô tả file (file descriptor). Một trong những thuận lợi trong Linux và các hệ thống UNIX khác là giao diện file làm như nhau đối với nhiều loại thiết bị. Đĩa từ, các thiết bị vào/ra, cổng song song, giả máy trạm (pseudoterminal), cổng máy in, bảng mạch âm thanh, và chuột được quản lý như các thiết bị đặc biệt giống như các tệp thông thường để lập trình ứng dụng.
Các socket TCP/IP và miền, khi kết nối được thiết lập, sử dụng mô tả file như thể chúng là các file chuẩn. Các ống (pipe) cũng tương tự các file chuẩn. Một mô tả file đơn giản chỉ là một số nguyên được sử dụng như chỉ mục (index) vào một bảng các file mở liên kết với từng tiến trình. Các giá trị 0, 1 và 2 liên quan đến các dòng (streams) vào ra chuẩn: stdin, stderr và stdout; ba dòng đó thường kết nối với máy của người sử dụng và có thể được chuyển tiếp (redirect).
Một số lời gọi hệ thống sử dụng mô tả file. Hầu hết các lời gọi đó trả về giá trị -1 khi có lỗi xảy ra và biến errno ghi mã lỗi. Mã lỗi được ghi trong trang chính tuỳ theo từng lời gọi hệ thống. Hàm perror() được sử dụng để hiển thị nội dung thông báo lỗi dựa trên mã lỗi.
Hàm open()
Lời gọi open() sử dụng để mở một file. Khuôn mẫu của hàm và giải thích tham số và cờ của nó được cho dưới đây:
Đối số pathname là một xâu chỉ ra đường dẫn đến file sẽ được mở. Thông số thứ ba xác định chế độ của file Unix (các bit được phép) được sử dụng khi tạo một file và nên được sử dụng khi tạo một file . Tham số flags nhận một trong các giá trị O_RDONLY, O_WRONLY hoặc O_RDWR

Các giá trị cờ của hàm open().
Open() trả về một mô tả file nếu không có lỗi xảy ra. Khi có lỗi , nó trả về giá trị -1 và đặt giá trị cho biến errno. Hàm create() cũng tương tự như open() với các cờ O_CREATE | O_WRONLY | O_TRUNC
Hàm close()
Chúng ta nên đóng mô tả file khi đã thao tác xong với nó. Chỉ có một đối số đó là số mô tả file mà lời gọi open() trả về. Dạng của lời gọ i close() là:
Tất cả các khoá (lock) do tiến trình xử lý trên file được giải phóng, cho dù chúng được đặt mô tả file khác. Nếu quá trình đóng file làm cho bộ đếm liên kết bằng 0 thì file sẽ bị xoá. Nếu đây là mô tả file cuối cùng liên kết đến một file được mở thì bản ghi ở bảng file mở được giải phóng. Nếu không phải là một file bình thường thì các hiệu ứng không mong muốn có thể xảy ra.
Hàm read()
Lời gọi hệ thống read() sử dụng để đọc dữ liệu từ file tương ứng với một mô tả file.
Đối số đầu tiên là mô tả file mà được trả về từ lời gọi open() trước đó. Đối số thứ hai là một con trỏ tới bộ đệm để sao chép dữ liệu và đối số thứ ba là số byte sẽ được đọc. read() trả về số byte được đọc hoặc -1 nếu có lỗi xảy ra.
Hàm write()
Lời gọi hệ thống write() sử dụng để ghi dữ liệu vào file tương ứng với một mô tả file.
Đối số đầu tiên là số mô tả file được trả về từ lời gọi open() trước đó. Đối số thứ hai là con trỏ tới bộ đệ m (để sao chép dữ liệu, có dung lượng đủ lớn để chứa dữ liệu) và đối số thứ ba xác định số byte sẽ được ghi. write() trả về số byte đọc hoặc -1 nếu có lỗi xảy ra.
Hàm ftruncate()
Lời gọi hệ thống ftruncate() cắt file tham chiếu bởi mô tả file fd với độ dài được xác định bởi tham số length
Trả về giá trị 0 nếu thành công và -1 nếu có lỗi xảy ra.
Hàm lseek()
Hàm lseek() đặt vị trí đọc và ghi hiện tại trong file được tham chiếu bởi mô tả file files tới vị trí offset.
Phụ thuộc vào giá trị của whence, giá trị của offset là vị trí bắt đầu (SEEK_SET), vị trí hiện tại (SEEK_CUR), hoặc cuối file (SEEK_END). Giá trị trả về là kết quả của offset: bắt đầu file, hoặc một giá trị của off_t , giá trị -1 nếu có lỗi.
Hết phần 6

Leave a Reply

Subscribe to Posts | Subscribe to Comments

Welcome to My Blog

Tổng số lượt xem trang

Social Icons

Social Icons

Message From Admin

các bạn có thể tham gia bình luận,góp ý...những bình luận nào mang tính thô tục,chửi bậy..không tốt,admin sẽ xóa không báo trước Thân!

- Copyright © Hệ thống mạng unix/Linix -Robotic Notes- Powered by Blogger - Designed by Johanes Djogan -