1. Cài đặt Samba:
Samba cho phép các máy tính chạy Linux có thể hoạt động và giao tiếp trên cùng một giao thức mạng với máy Windows. Samba server thực hiện các dịch vụ sau:
• Chia sẻ một hay nhiều hệ thống file.
• Chia sẻ các máy in đã được cài đặt ở cả hai phía server và client của nó.
• Hỗ trợ các client duyệt Network Neighborhood trong các máy windows.
• Kiểm tra xác nhận các client đăng nhập vào vùng của Windows.
• Cung cấp hoặc hỗ trợ việc phân giải địa chỉ của server bằng WINS (Windows Internet Name Server).
Để dễ hình dung hơn, ta lấy ví dụ mạng đơn giản có dùng Samba. Giả sử ta có một cấu hình mạng cơ bản sau: một máy chủ Linux có sử dụng Samba với tên được đặt là Toltec, và hai client trên MS Windows, với tên là Maya và Aztec, được nối với nhau trong một mạng Lan và tham gia vào nhóm làm việc có tên METRAN. Ta còn giả sử máy chủ Toltec còn có một máy in phun tên là lp được nối tại chỗ, đồng thời việc chia sẻ đĩa cứng cho phép các máy "nhìn" thấy nhau. Mô tả mạng trên bằng hình vẽ D.1 được biểu diễn dưới đây:

Hình D.1 Một mạng có nhiều hệ điều hành.
Các vai trò của Samba đối với mạng Windows NT (phiên bản Samba 2.0.4b.)
2. Các thành phần của Samba:
Samba thực chất chứa một số chương trình phục vụ cho những mục đích khác nhau nhưng có liên quan với nhau. Hạt nhân của Samba là hai deamon có những nhiệm vụ sau:
smbd Daemon: smbd chịu trách nhiệm điều khiển các tài nguyên được chia sẻ giữa máy chủ Samba và các máy trạm của nó. Nó cung cấp các dịch vụ về file, in, và trình duyệt cho các máy trạm SMB thông qua một hay nhiều mạng. smdb xử lý tất cả các trao đổi giữa máy chủ Samba và các client mạng của nó. Ngoài ra, deamon này còn chịu trách nhiệm kiểm tra xác nhận người dùng, khoá tài nguyên, và chia sẻ dữ liệu thông qua giao thức SMB.
nmbd Deamon: nmbd là một máy chủ dịch vụ tên đơn giản bắt chước các chức năng máy chủ dịch vụ tên, chạy với các giao thức WINS và NetBIOS. Daemon này ỏlắng ngheÕ các yêu cầu của máy chủ dịch vụ tên và cung cấp các thông tin thích hợp khi được gọi tới. Nó còn cung cấp danh sách duyệt Network Neighborhood và tham gia vào lựa chọn các đối tượng mạng trong đó.
Bộ cài đặt Samba còn có một tập hợp nhỏ các công cụ dòng lệnh Linux:
smbclient: Một client Linux theo kiêu ftp có thể dùng tiện ích này để kết nối với tài nguyên được Samba chia sẻ.
Smbtar: Chương trình để lưu trữ các tài nguyên được chia sẻ, tương tự như lệnh tar của Linux.
nmblookup: Chương trình cung cấp NetBIOS thông qua việc tìm tên bằng TCP/IP.
smbpasswd: Chương trình cho phép ngưười quản trị thay đổi mật khẩu đã mã hóa của Samba.
testparm: Chương trình đơn giản để làm cho file cấu hình Samba có hiệu lực.
testprns: Chương trình kiểm tra liệu các máy in khác nhau có được deamon smbd nhận ra hay không.
Nếu muốn xem từng deamon thực hiện những gì, Samba có chương trình với tên smbstatus sẽ đa tất cả các thông tin đó lên màn hình như sau:
Việc cài đặt samba cũng khá đơn giản, ta cần chuẩn bị các package sau:
Trong đó xxx là số hiệu phiên bản của samba. Đăng nhập với quyền root và sau đó ra lệnh:
Nếu ta không nhận lời thông báo lỗi nào cả thì quá trình cài đặt đã hoàn tất.
3. File cấu hình Samba:
Những tên được bao trong các ngoặc vuông dùng để ký hiệu cho các phần của file cấu hình smb.conf, mô tả các chia sẻ hay dịch vụ mà Samba cung cấp. Ví dụ, các phần "test" và "homes" là các chia sẻ riêng rẽ đối với đĩa cứng; chúng chứa các tuỳ chọn được ánh xạ tới các thư mục cụ thể trên server Samba. Phần chia sẻ "printers" chứa các tuỳ chọn ánh xạ tới các máy in khác nhau của servers. Tất cả các phần được xác định trong file smb.conf, trừ phần [global, sẽ được coi như các chia sẻ đĩa cứng hoặc máy in cho những dùng kết nối với server Samba.
Các dòng vào còn lại là các tuỳ chọn riêng được quy định cụ thể cho sự chia sẻ đã được đề cập tới. Các tuỳ chọn đó có tác dụng cho tới khi bắt đầu một phần mới được ký hiệu trong cặp ngoặc vuông, hoặc cho tới điểm cuối của file smb.conf được thiết lập bằng cách gán giá trị cho chúng. Mỗi một tuỳ chọn cấu hình đều có cú pháp đơn giản:
Cuối cùng, ta có thể dùng khoảng trống dể ngăn cách chuỗi các giá trị trong danh sách, hoặc có thể dùng các dấu phảy, Hai cách trên là tơng đơng nhau nhng ta chỉ nên dùng một cách hoặc dấu phảy hoặc khoảng trống.
Chữ viết hoa không có ý nghĩa gì đối với file cấu hính Samba, ngoại trừ trong các vị trí mà hệ điều hành được chỉ tới không cho phép viết, bởi vì hệ điều hành Linux phân biệt chữ viết thường và viết hoa.
Trong trường hợp dòng vào quá dài không thể gói gọn trong không gian mà cửa sổ dòng lệnh cho phép, ta có thể viết tiếp dòng trong file cấu hình Samba bằng cách dùng ký hiệu dấu gạch ngược "\", ví dụ:
Có thể thay đổi file smb.conf và bất kỳ tuỳ chọn nào của nó vào thời điểm bất kỳ trong khi các daemon Samba đang chạy. Theo mặc định, Samba kiểm tra file cấu hình của mình cứ 60 giây một lần để tiếp nhận cá thay đổi mới. Nếu không muốn chờ đợi lâu như vậy, bạn có thể bắt các daemon đó nạp lại bằng cách gửi tín hiệu SIGHUP tới chúng, hoặc chỉ đơn giản là khởi động lại. Ví dụ, nếu tiến trình smbd có PID là 893, ta có thể bắt nó đọc lại file cấu hình bằng lệnh sau đây:
Không phải tất cả các thay đổi đều được cá máy client chấp nhận ngay. Ví dụ, các tài nhuyên chia sẻ hiện thời đang được sử dụng sẽ không được đăng ký cho đến khi các máy client cắt các nối kết rồi kết nối lại tới các tài nguyên đó. Thêm nữa, cũng sẽ không được đăng ký ngay lập tức. Điều đó giúp cho các máy client tích cực không bị ngắt nối kết một cách bất ngờ hoặc gặp phải các vấn đề không được chờ đợi về truy cập tài nguyên khi phiên làm việc vẫn đang được mở.
Các biến: Samba có một tập hợp đầy đủ cá biến xác định các đặc trưng của server Samba và của cá máy client nối với nó. Mỗi một biến được bắt đầu bằng dấu phần trăm "%", tiếp theo là một ký tự đơn viết hoa hoặc viết thường và chỉ có thể được dùng bên vế phải của dòng liịnh tuỳ chọn cấu hình theo cú pháp potion = variable như trong câu lệnh ví dụ sau:
Ký hiệu biến %a có nghĩa đại diện cho kiến trúc của máy tính client, như WinNT để chỉ các máy tính chạy trên Windows NT, Win95 - cho máy Windows 95 hoặc 98, hay như WfWg - cho Windows for Worrgroups (Windows 3.11). Theo cách viết trên, Samba sẽ gán đường dẫn chung chỉ tới tài nguyên được chia sẻ trong phần [pub] cho các máy client chạy trên Windows NT, gán đường dẫn khác cho các máy Windows 9x, và một đường dẫn nữa cho các máy với Windows for Worrkgroups. Nói cách khác, các đường dẫn mà theo đó mỗi máy client nhận thấy tài nhuyên chia sẻ sẽ khác nhau, tuỳ thuộc vào kiến trúc của client.

Danh sách các biến của Samba.
Hết phần 1