WinSCP là một phần mềm cho phép trao dổi dữ liệu giữa hai máy tính cài hệ điều hành
Window và Linux khá dể dàng. Phần mềm này có bản chạy (stand_alone) tại địa chỉ
http://downloads.sourceforge.net/win...2.exe?download
Sau đây là một số bước cơ bản để sử dụng WinSCP:
Qui ước :
- Máy A : là máy local, chạy HDH Window.
- Máy B : là máy remote (hoặc máy ảo), chạy HDH Linux.
1 – Việc đầu tiên là phải cấu hình card mạng sao cho 2 máy tính này “thấy” nhau:
- Xem cấu hình IP tại máy A : Start Æ Run Æ gõ vào cmd Æ gõ vào màn hình
console mới hiện ra lệnh ipconfig
- Ở đây card mạng trên máy đã được enable và có địa chỉ là 172.29.70.18 và
subnetmask là 255.255.255.0.
- Cấu hình địa chỉ IP trên máy B cùng đường mạng với máy A (ví dụ ở đây là
172.29.70.170). Mở màn hình console và gõ vào redhat-config-network (với
Redhat 9, hoặc system-config-network với FC3) :
Bấm vào Edit để cấu hình địa chỉ IP
Bấm vào Active để active card mạng lên
Quay lại màn hình console gõ vào service network restart để khởi động lại card
mạng.
- Kiểm tra lại bằng cách dùng lệnh ping.
2 – Khởi động WinSCP tại máy A sau đó gõ địa chỉ máy B cùng với
username/password để kết nối đến máy B :
Window và Linux khá dể dàng. Phần mềm này có bản chạy (stand_alone) tại địa chỉ
http://downloads.sourceforge.net/win...2.exe?download
Sau đây là một số bước cơ bản để sử dụng WinSCP:
Qui ước :
- Máy A : là máy local, chạy HDH Window.
- Máy B : là máy remote (hoặc máy ảo), chạy HDH Linux.
1 – Việc đầu tiên là phải cấu hình card mạng sao cho 2 máy tính này “thấy” nhau:
- Xem cấu hình IP tại máy A : Start Æ Run Æ gõ vào cmd Æ gõ vào màn hình
console mới hiện ra lệnh ipconfig
- Ở đây card mạng trên máy đã được enable và có địa chỉ là 172.29.70.18 và
subnetmask là 255.255.255.0.
- Cấu hình địa chỉ IP trên máy B cùng đường mạng với máy A (ví dụ ở đây là
172.29.70.170). Mở màn hình console và gõ vào redhat-config-network (với
Redhat 9, hoặc system-config-network với FC3) :
Bấm vào Edit để cấu hình địa chỉ IP
Bấm vào Active để active card mạng lên
Quay lại màn hình console gõ vào service network restart để khởi động lại card
mạng.
- Kiểm tra lại bằng cách dùng lệnh ping.
2 – Khởi động WinSCP tại máy A sau đó gõ địa chỉ máy B cùng với
username/password để kết nối đến máy B :
Nội dung
1. Giới thiệu
2. Cấu hình DNS (bind version 9)
* Caching name server
* Authoritative DNS server và zone file
* Master, slave server
3. Tham khảo
Giới thiệu
Bài viết này giới thiệu cách dùng bind để cấu hình DNS cho máy Linux. Chú ý rằng cấu hình bind (named.conf và zone file) không phụ thuộc vào hệ điều hành, có thể dùng những file cấu hình này cho những HĐH khác ngoài Linux. Cấu hình này đã được kiểm tra trên Linux (RH 9, FC 1, TSL 2.1), FreeBSD (R-5.1) và Solaris (8).
Chú ý: đây là cấu hình không chroot. Xem bind-chroot phần "Tham khảo, thông tin thêm".
Bắt đầu viết: tháng 5 năm 2003.
Thay đổi lần cuối vào lúc: Sun Feb 1 12:47:44 JST 2004.
Cài đặt và cấu hình
Phần 1: Cài đặt
Compile từ source (xem http://www.isc.org/index.pl?/sw/bind/), hoặc dùng binary gói sẵn cho mỗi distro.
Riêng cho người dùng FC:
Riêng cho người dùng Trustix
swup --install bind caching-nameserver
Phần 2: Caching nameserver
Phần này ghi cách làm "caching name server", một kiểu DNS đơn giản, thích hợp cho những ai tập làm DNS lần đầu tiên, hoặc những ai muốn làm DNS cho máy cá nhân. Theo cấu hình này, mỗi khi có yêu cầu (query) về thông tin DNS, server sẽ tìm kiếm theo thứ tự: 1) dữ liệu trong bộ đệm (cache), nếu không có hoặc dữ liệu đã hết hạn thì 2) hỏi DNS cấp cao nhất (root server).
Những file cần thiết
1. /etc/named.conf: file cấu hình DNS
2. /var/named/named.ca: danh sách root server
3. /var/named/localhost.zone: localhost zone file
4. /var/named/0.0.127.rev: localhost reverse zone file
Riêng cho người dùng FC: Những file ghi trên có trong gói caching-nameserver-***.rpm
Chuẩn bị file /etc/named.conf như sau
tiếp theo, copy file named.ca vào /var/named. File
named.ca là danh sách tất cả những DNS root server, thường được kèm
sẵn trong phần mềm bind. Ngoài ra, có thể download file named.ca ở http://www.root-servers.org (xem phần tham khảo).
soạn file localhost.zone và copy vào /var/named
soạn file 0.0.127.rev và copy vào /var/named
xong khởi động DNS daemon.
Cho người dùng FC:
1. khởi động: /etc/init.d/named start
2. ví dụ về script khởi động có trong gói bind-***.rpm
Cách sử dụng: soạn file /etc/resolve.conf có nội dung như sau
# dùng my DNS server, không cần DNS server của ISP
sau đó thử một vài query. Nếu thấy kết quả như sau đây, DNS server của bạn đã hoạt động.
###------------------------------------------------------
// thử localhost
$ host localhost.
$ host 127.0.0.1
// thử Internet
$nslookup www.google.com
Phần 3:Authoritative server và zone file
Phần này ghi cách cấu hình một DNS server cho domain "domain.name", có thể query từ bất kỳ máy nào trong LAN. Giả sử IP của DNS server là 192.168.1.1, phục vụ cho LAN 192.168.1.0/24.
Cấu hình này cũng có thể dùng để phục vụ những query từ Internet, nếu DNS server có interface mang địa chỉ global IP. Do đó sự an toàn thông tin và sự rõ ràng trong cấu hình được chú trọng (đặc biệt sử dụng "view statement").
Chuẩn bị file /etc/named.conf
Những zone file cần thiết: (/var/named/internal/)mydomain.zone, 1.168.192.rev; (/var/named/global/)mydomain.zone
domain.zone (internal):
Những zone file ở thư mục global: hoàn toàn tương tự.
Cách sử dụng
// chỉ định DNS server: soạn file /etc/resolve.conf như sau
sau đó thử một vài query. Nếu thấy kết quả như sau đây, DNS server của bạn đã hoạt động.
###---------------------------------------------------------------
// thử localhost
$ host localhost
// thử zone file
$ host mail
$ host -t hinfo chibi
chibi.domain.name host information "Linux" "P3 500MHz, RAM 128 MB"
// thử reverse zone
$ host 192.168.1.2
Phần 4: Master, slave DNS server
Cấu hình master/slave DNS server thường chỉ cần thiết cho những hệ thống có yêu cầu về tính an toàn và ổn định, cho những hệ thống cỡ lớn.
Chú ý: phân biệt master/slave DNS server với primary/secondary DNS server!
Phần 5: Những option thông dụng
Tham khảo, thông tin thêm
1. DNS query sử dụng port 53, giao thức UDP
2. DNS update (master/slave) sử dụng port 53, giao thức TCP
3. Danh sách DNS root server: địa điểm, IP, traffic load
4. chroot bind (FC: yum install bind-chroot)
5. reverse DNS delegation (RFC 2317, BCP 0020)
6. DNS for Rocket Scientists
7. DNS and BIND, 3rd ed., NXB O'Reilly.
Nguồn : http://james.dyndns.ws/index.php
James Nguyen.
1. Giới thiệu
2. Cấu hình DNS (bind version 9)
* Caching name server
* Authoritative DNS server và zone file
* Master, slave server
3. Tham khảo
Giới thiệu
Bài viết này giới thiệu cách dùng bind để cấu hình DNS cho máy Linux. Chú ý rằng cấu hình bind (named.conf và zone file) không phụ thuộc vào hệ điều hành, có thể dùng những file cấu hình này cho những HĐH khác ngoài Linux. Cấu hình này đã được kiểm tra trên Linux (RH 9, FC 1, TSL 2.1), FreeBSD (R-5.1) và Solaris (8).
Chú ý: đây là cấu hình không chroot. Xem bind-chroot phần "Tham khảo, thông tin thêm".
Bắt đầu viết: tháng 5 năm 2003.
Thay đổi lần cuối vào lúc: Sun Feb 1 12:47:44 JST 2004.
Cài đặt và cấu hình
Phần 1: Cài đặt
Compile từ source (xem http://www.isc.org/index.pl?/sw/bind/), hoặc dùng binary gói sẵn cho mỗi distro.
Riêng cho người dùng FC:
Code:
###--------------------------------------------------------------
// từ RPM
rpm -ivh bind-version***.rpm
rpm -ivh caching-nameserver-version***.rpm
// đang nối Internet
yum install bind caching-nameserver
###-------------------------------------------------------------
swup --install bind caching-nameserver
Phần 2: Caching nameserver
Phần này ghi cách làm "caching name server", một kiểu DNS đơn giản, thích hợp cho những ai tập làm DNS lần đầu tiên, hoặc những ai muốn làm DNS cho máy cá nhân. Theo cấu hình này, mỗi khi có yêu cầu (query) về thông tin DNS, server sẽ tìm kiếm theo thứ tự: 1) dữ liệu trong bộ đệm (cache), nếu không có hoặc dữ liệu đã hết hạn thì 2) hỏi DNS cấp cao nhất (root server).
Những file cần thiết
1. /etc/named.conf: file cấu hình DNS
2. /var/named/named.ca: danh sách root server
3. /var/named/localhost.zone: localhost zone file
4. /var/named/0.0.127.rev: localhost reverse zone file
Riêng cho người dùng FC: Những file ghi trên có trong gói caching-nameserver-***.rpm
Chuẩn bị file /etc/named.conf như sau
Code:
###----------------------------------------------------------------------
acl localnet {
127.0.0.1;
};
options {
// nơi đặt zone files
directory "/var/named";
// chỉ dùng trong mạng localnet
allow-transfer { localnet; };
allow-query { localnet; };
};
controls {
inet 127.0.0.1
allow { localhost; }
keys { rndckey; };
};
zone "." IN {
// hỏi root server
type hint;
file "named.ca";
};
zone "localhost" IN {
type master;
file "localhost.zone";
allow-update { non
e; };
};
zone "0.0.127.in-addr.arpa" IN {
type master;
file "0.0.127.rev";
allow-update { none; };
};
include "/etc/rndc.key";
###-----------------------------------------------------------------
soạn file localhost.zone và copy vào /var/named
Code:
###-----------------------------------------------------------------
$TTL 86400
$ORIGIN localhost.
@ 1D IN SOA @ root (
42 ; serial (d. adams)
3H ; refresh
15M ; retry
1W ; expiry
1D ) ; minimum
1D IN NS @
1D IN A 127.0.0.1 ###--------------------------------------------------------------------
Code:
###-------------------------------------------------------------------
$TTL 86400
@ IN SOA localhost. root.localhost. (
1997022700 ; Serial
28800 ; Refresh
14400 ; Retry
3600000 ; Expire
86400 ) ; Minimum
IN NS localhost.
1 IN PTR localhost.
###-----------------------------------------------------------
Cho người dùng FC:
1. khởi động: /etc/init.d/named start
2. ví dụ về script khởi động có trong gói bind-***.rpm
Cách sử dụng: soạn file /etc/resolve.conf có nội dung như sau
# dùng my DNS server, không cần DNS server của ISP
Code:
nameserver 127.0.0.1
###------------------------------------------------------
// thử localhost
$ host localhost.
Code:
localhost has address 127.0.0.1
Code:
1.0.0.127.in-addr.arpa domain name pointer localhost.
$nslookup www.google.com
Code:
Server: 127.0.0.1
Address: 127.0.0.1#53
Non-authoritative answer:
www.google.com canonical name = www.google.akadns.net.
Name: www.google.akadns.net
Address: 66.102.9.104
Name: www.google.akadns.net
Address: 66.102.9.99
###-----------------------------------------------------------
Phần 3:Authoritative server và zone file
Phần này ghi cách cấu hình một DNS server cho domain "domain.name", có thể query từ bất kỳ máy nào trong LAN. Giả sử IP của DNS server là 192.168.1.1, phục vụ cho LAN 192.168.1.0/24.
Cấu hình này cũng có thể dùng để phục vụ những query từ Internet, nếu DNS server có interface mang địa chỉ global IP. Do đó sự an toàn thông tin và sự rõ ràng trong cấu hình được chú trọng (đặc biệt sử dụng "view statement").
Chuẩn bị file /etc/named.conf
Code:
###----------------------------------------------------------
acl localnet {
127.0.0.1;
192.168.1.0/24; // private IP
};
options {
directory "/var/named";
allow-transfer { localnet; };
allow-query { localnet; };
version ""; // hide the version
};
controls {
inet 127.0.0.1
allow { localhost; }
keys { rndckey; };
};
// không log những lame-server
logging {
category lame-servers { null; };
};
// phục vụ localnet
// localnet gồm những máy đã định nghĩa bằng "acl localnet"
view "internal" {
match-clients { localnet; };
recursion yes;
zone "." IN {
// hỏi root server
type hint;
file "named.ca";
};
zone "localhost" IN {
type master;
file "localhost.zone";
allow-update { none; };
};
zone "0.0.127.in-addr.arpa" IN {
type master;
file "0.0.127.rev";
allow-update { none; };
};
zone "domain.name" IN {
type master;
file "internal/domain.zone";
allow-update { none; };
};
zone "1.168.192.in-addr.arpa" IN {
type master;
file "internal/1.168.192.rev";
allow-update { none; };
};
};
// phục vụ những client không thuộc localnet (ví dụ Internet)
view "global" {
match-clients { any; };
allow-query { any; };
// server này chỉ trả lời query về domain.name
recursion no;
// ----------------------------
// những dòng sau đây chỉ sử dụng với "recursion yes;"
// trả lời cả những query về những domain khác
// bằng cách hỏi root DNS servers
// zone "." IN {
// type hint;
// file "named.ca";
// };
// ----------------------------
zone "domain.name" IN {
type master;
file "global/domain.zone";
allow-update { none; };
};
};
###----------------------------------------------------------
domain.zone (internal):
Code:
###-------------------------------------------------
$TTL 86400
$ORIGIN domain.name.
@ IN SOA ns.domain.name. dnsmaster.domain.name. (
2003051100 ; tăng (ví dụ +1) khi thay đổi thông tin
3H ; update thông tin từ master server
3600 ; làm lại, nếu không connect được với master
1W ; thời hạn giữ thông tin của slave
1D ) ; thời hạn cache của client, giảm -1 mỗi giây
IN A 192.168.1.1
IN MX 10 mail.domain.name.
IN NS ns.domain.name.
localhost IN A 127.0.0.1
mail IN A 192.168.1.3
ntp IN A 192.168.1.10
www IN CNAME Chibi.domain.name.
Chibi IN A 192.168.1.99
IN HINFO "Linux" "P3 500MHz, RAM 128 MB"
Monster IN A 192.168.1.100
IN HINFO "Linux" "Quad Itanium2 1.5G, 32G DDR SDRAM"
###------------------------------------------------------------------
file 1.168.192.rev (internal)
###--------------------------------------------------------------------
$TTL 86400
$ORIGIN 1.168.192.IN-ADDR.ARPA.
@ IN SOA ns.domain.name. dnsmaster.domain.name. (
2003051500 ; Serial
10800 ; Refresh after 3 hours
3600 ; Retry after 1 hour
604800 ; Expire after 1 week
86400 ) ; Minimum TTL of 1 day, negative cache
IN NS ns.domain.name.
1 IN PTR hydro.domain.name.
2 IN PTR heli.domain.name.
###----------------------------------------------------------------
Cách sử dụng
// chỉ định DNS server: soạn file /etc/resolve.conf như sau
Code:
search domain.name
nameserver 192.168.1.1
###---------------------------------------------------------------
// thử localhost
$ host localhost
Code:
localhost.domain.name has address 127.0.0.1
$ host mail
Code:
mail.domain.name has address 192.168.1.3
chibi.domain.name host information "Linux" "P3 500MHz, RAM 128 MB"
// thử reverse zone
$ host 192.168.1.2
Code:
2.17.168.192.in-addr.arpa domain name pointer heli.domain.name.
// thử Internet
$ dig www.google.com soa
// sẽ thấy kết quả
; <<>> DiG *.*.* <<>> www.google.com soa
;; global options: printcmd
;; Got answer:
;; ->>HEADER<<- opcode: QUERY, status: NOERROR, id: 7662
;; flags: qr rd ra; QUERY: 1, ANSWER: 1, AUTHORITY: 1, ADDITIONAL: 0
;; QUESTION SECTION:
;www.google.com. IN SOA
;; ANSWER SECTION:
www.google.com. 820 IN CNAME www.google.akadns.net.
;; AUTHORITY SECTION:
google.akadns.net. 821 IN SOA asia3.akam.net.
hostmaster.akamai.com. 1091842826 3600 300 172800 900
;; Query time: 7 msec
;; SERVER: 192.168.1.1#53(192.168.1.1)
;; WHEN: *****
;; MSG SIZE rcvd: 132
###------------------------------------------------------------
Cấu hình master/slave DNS server thường chỉ cần thiết cho những hệ thống có yêu cầu về tính an toàn và ổn định, cho những hệ thống cỡ lớn.
Chú ý: phân biệt master/slave DNS server với primary/secondary DNS server!
Code:
Master server (IP 192.168.1.1) của domain.name
zone "domain.name" IN {
type master;
file "internal/domain.zone";
};
Slave server (IP 192.168.1.2) của domain.name
zone "domain.name" IN {
type slave;
file "internal/domain.zone";
masters {
192.168.1.1;
}
};
Tham khảo, thông tin thêm
1. DNS query sử dụng port 53, giao thức UDP
2. DNS update (master/slave) sử dụng port 53, giao thức TCP
3. Danh sách DNS root server: địa điểm, IP, traffic load
4. chroot bind (FC: yum install bind-chroot)
5. reverse DNS delegation (RFC 2317, BCP 0020)
6. DNS for Rocket Scientists
7. DNS and BIND, 3rd ed., NXB O'Reilly.
Nguồn : http://james.dyndns.ws/index.php
James Nguyen.
Hiện tại thì mình đang cố gắng post bài về cisco cho trang web nhưng vì hôm này tìm được tài liệu khá hay về Linux. Híc nói rõ hơn là cái tài liệu này là do thầy Lê Quốc Tuấn giảng viên khoa CNTT trường dh GTVT TPHCM cung cấp nên mình post lên cho các bạn tham khảo. Mình hứa sẽ lấy nhiều tài liệu về bên Linux này cho các bạn rồi post lên (vì thầy chưa soạn xong nên chưa post hết được một lần nên mới post nhiều lần thế này).
Hệ thống tài liệu Linux này là giới thiệu và hướng dẫn các bạn sử dụng Linux tổng quan bằng dòng lệnh(command line). Tức là những gì giới thiệu trong tài liệu này sẽ giúp bạn sử dụng được tất cả các phiên bản của Linux từ unbuntu, Rehat, Fedora core...
Nhưng ở đây thì thầy của mình lấy Rehat ra làm ví dụ cho mọi người.
Việc cài đặt Linux trong window thì nó có một số bước hơi phức tạp so với việc cài Window nhưng mà trong trang web này bác Cường đã có file hướng dẫn các bạn cài Linux khi hệ thống bạn đang xài window rùi. Với ở đây mình xin post lên cái đường link hướng dẫn cài Fedora core 8 luôn cho các bạn
Đường link dưới đây là tài liệu tổng quan về Linux
Bài 1: Giới thiệu, cài đặt Redhat, và tổng quan các lệnh thông thường 2
Bài 2: : Cài đặt và Cấu hình DHCP Server 17
Bài 3: : Cài đặt và Cấu hình DNS Server 20
Bài 4: : Cài đặt và Cấu hình Samba Server 24
Bài 5: : Cài đặt và Cấu hình Squid Server 33
Bài 6: : Cài đặt và Cấu hình Apache Server 37
Bài 7: : Cài đặt và Cấu hình Sendmail 53
Bài 8: : Cài đặt và Cấu hình RAS 57
+ File đính kèm thứ nhất là tài liệu đã giới thiệu
+ Còn file đính kèm thứ 2 là bài giảng trên lớp
Theo Blog Lê cường
Yêu cầu trong bài lab hướng dẫn này
Đăng nhập vào hệ thống, sử dụng tài khoản root và thực hiện các yêu sau:
Mục tiêu bài lab
Giúp các bạn thực hiện các thao tác cơ bản về mạng trên môi trường Linux.
Mô hình sẽ thực hiện
Hướng dẫn thực hiện:
1. Xem tên máy, sau đó đổi tên thành linuxserver.
+ Xem tên máy
+ Đổi tên máy tạm thời thành linuxserver
+ Đổi vĩnh viễn thành linuxserver
Sửa file /etc/sysconfig/network thành
Gõ
Để khởi động lại máy giúp thay đổi có hiệu lực và các máy khác trên mạng nhận được sự thay đổi này.
2 & 3. Xem thông tin địa chỉ và trạng thái các giao tiếp mạng đang hoạt động.
Nếu giao tiếp mạng nào đang trong trạng thái hoạt động sẽ xuất hiện sau khi gõ lệnh ifconfig .
Dòng "UP BROADCAST RUNNING MULTICASTT" biểu diễn trạng thái giao tiếp mạng này đang hoạt động.
Để xem thông tin địa chỉ và trạng thái 1 giao tiếp mạng nào đó ta dùng lệnh sau:
Ví dụ:
4. Đặt địa chỉ card mạng (Tạm thời)
+ Đặt địa chỉ card mạng (Tạm thời)
=> Đổi tạm thời IP của card mạng eth1 thành 192.168.1.2 và SubNetMask thành 255.255.255.0
+ Đặt địa chỉ card mạng (Vĩnh viễn)
Lưu ý các thông số sau (Những gì sau dấu # là chú thích)
Thiết đặt DNS
Sửa nội dung thành như sau và lưu lại
Lưu ý: Sau khi cấu hình các thông số mạng nên khởi động lại dịch vụ mạng để thay đổi có hiệu lực bằng lệnh
Hoặc lệnh
5. Kiểm tra có liên thông với máy 192.168.1.1 hay không
(Gửi 4 gói tin ICMP để kiểm tra rồi ngưng, nếu không có tham số -c thì ping sẽ chạy mãi đến khi ta bấm Ctrl + C)
Nếu thông mạng thì kết quả sẽ dạng sau:
Bài lab đầu tiên về serial linux server kết thúc tại đây, mọi sao chép và trình dẫn xin vui lòng ghi rõ nguồn và link đến bài viết gốc.
Nguồn :sinhvienit
Đăng nhập vào hệ thống, sử dụng tài khoản root và thực hiện các yêu sau:
- Xem tên máy, sau đó đổi tên thành linuxserver.
- Xem thông tin về địa chỉ mạng của card eth1 và lo
- Xem trạng thái vật lý card mạng.
- Đặt địa chỉ mạng có thông tin sau:
- IP: 192.168.1.2
- SubnetMask: 255.255.255.0
- Default Getway: 192.168.1.1
- DNS: 8.8.8.8 / 8.8.4.4
- Kiểm tra máy cục bộ có liên thông với máy 192.168.1.1.
- Thay đổi địa chỉ ip trên thành địa 192.168.100.1/24, Defautl Getway: 192.168.100.10
Mục tiêu bài lab
Giúp các bạn thực hiện các thao tác cơ bản về mạng trên môi trường Linux.
Mô hình sẽ thực hiện
Hướng dẫn thực hiện:
1. Xem tên máy, sau đó đổi tên thành linuxserver.
+ Xem tên máy
Code:
# hostname
Code:
# hostname linuxserver
Sửa file /etc/sysconfig/network thành
Code:
NETWORKING=yes HOSTNAME=linuxserver
Code:
# init 6
2 & 3. Xem thông tin địa chỉ và trạng thái các giao tiếp mạng đang hoạt động.
Code:
# ifconfig
eth1 Link encap:Ethernet HWaddr 00:0C:29:A2:F4:6C
inet addr:192.168.1.2 Bcast:192.168.1.255 Mask:255.255.255.0
inet6 addr: fe80::20c:29ff:fea2:f46c/64 Scope:Link
UP BROADCAST RUNNING MULTICAST MTU:1500 Metric:1
RX packets:382 errors:0 dropped:0 overruns:0 frame:0
TX packets:106 errors:0 dropped:0 overruns:0 carrier:0
collisions:0 txqueuelen:1000
RX bytes:63620 (62.1 KiB) TX bytes:18952 (18.5 KiB)
Interrupt:19 Base address:0x2000
Dòng "UP BROADCAST RUNNING MULTICASTT" biểu diễn trạng thái giao tiếp mạng này đang hoạt động.
Để xem thông tin địa chỉ và trạng thái 1 giao tiếp mạng nào đó ta dùng lệnh sau:
Code:
# ipconfig Tên_Giao_Tiếp_Mạng
Code:
# ipconfig eth1
4. Đặt địa chỉ card mạng (Tạm thời)
+ Đặt địa chỉ card mạng (Tạm thời)
Code:
# ifconfig eth1 192.168.1.2 netmask 255.255.255.0 up
+ Đặt địa chỉ card mạng (Vĩnh viễn)
Code:
# vi /etc/sysconfig/network-scripts/ifcfg-eth1
Code:
DEVICE=eth1 # Tên của Interface ONBOOT=yes # Có Active Interface này khi máy vừa khởi động không IPADDR=192.168.1.2 # Ipv4 của Interface này BOOTPROTO=static #Nếu muốn nhận IP động thì để dhcp, nếu muốn tĩnh thì để static NETMASK=255.255.255.0 # Subnetmask của đường mạng này GATEWAY=192.168.1.1 # Default gateway
Code:
# vi /etc/resolv.conf
Code:
nameserver 8.8.8.8 nameserver 8.8.4.4
Code:
# service network restart
Code:
# /etc/init.d/network restart
Code:
# ping –c 4 192.168.1.1
Nếu thông mạng thì kết quả sẽ dạng sau:
Code:
PING 192.168.1.1 (192.168.1.1) 56(84) bytes of data. 64 bytes from 192.168.1.1: icmp_req=1 ttl=64 time=2.27 ms 64 bytes from 192.168.1.1: icmp_req=2 ttl=64 time=0.671 ms 64 bytes from 192.168.1.1: icmp_req=3 ttl=64 time=0.603 ms 64 bytes from 192.168.1.1: icmp_req=4 ttl=64 time=0.587 ms --- 192.168.1.1 ping statistics --- 4 packets transmitted, 4 received, 0% packet loss, time 3002ms rtt min/avg/max/mdev = 0.587/1.033/2.271/0.715 ms
Bài lab đầu tiên về serial linux server kết thúc tại đây, mọi sao chép và trình dẫn xin vui lòng ghi rõ nguồn và link đến bài viết gốc.
Nguồn :sinhvienit
Phần mềm chuyển dữ liệu không dây cho Linux
Thứ Tư, 23 tháng 10, 2013
Posted by Admin
Tag :
Document
Flick for Linux cung cấp cho người dùng Linux một công cụ chia sẻ dữ liệu tiện ích, thông minh, đa nền tảng và hoàn toàn miễn phí.
Flick là một loại ứng dụng hiện đại, cải tiến. Đây cũng là phương pháp dễ dàng và đơn giản nhất để chia sẻ tài liệu, video và hình ảnh giữa các thiết bị di động, máy tính Linux với các thiết bị hoặc hệ điều hành khác. Tất cả được thực hiện bằng thao tác bắn từ một thiết bị sang thiết bị kế bên chạy ứng dụng Flick.
Theo đánh giá của người dùng, Flick là tiện ích dễ dàng nhất để chuyển ảnh giữa các nền tảng khác nhau, chẳng hạn giữa điện thoại smartphone và máy tính bảng với máy tính PC.
Tại sao người dùng lại yêu thích Flick?
Flick là một tiện ích chuyển dữ liệu hoàn toàn miễn phí. Người dùng có thể đặt ảnh, ghi chú cá nhân, tài liệu và danh sách số liên lạc vào Flicktop của mình và chuyển đến thiết bị bất kỳ nào khác cùng chạy chương trình này.
Tính năng Flicktop tích hợp sẵn cung cấp cho người dùng một layer an toàn, nơi các tệp tin được chia sẻ dễ dàng với thao tác chạm tay đơn giản. Khi tệp tin nằm trong Flicktop, bạn có toàn quyền quyết định xóa hay lưu chúng.
Giờ đây, người dùng không cần phải kết nối thông qua các hệ thống tệp tin phức tạp, các danh mục định vị và tệp tin để chia sẻ. Tất cả những gì bạn cần làm chỉ là bắn tệp tin giữa 2 thiết bị đặt cạnh nhau.
Một trong những tính năng hấp dẫn khác của Flick là "tự hủy" (Auto Destruct). Người dùng có thể thiết lập ảnh hoặc ghi chú được gửi đến bạn bè để tự động hủy sau một khoảng thời gian nhất định, giúp bạn bảo mật dữ liệu và không lo lắng những thông tin nhạy cảm bị phát tán rộng ra bên ngoài.
Ứng dụng sử dụng mạng không dây WiFi để kết nối các thiết bị và chia sẻ tệp tin. Ảnh, video, số liên lạc, ghi chú và trò chơi sẽ được cung cấp từ trong ứng dụng.
Tính năng chính của ứng dụng Flick for Linux:
- Bắn ảnh, video, ghi chú và số liên lạc giữa các thiết bị di động với Linux.
- Bắn ảnh, video, ghi chú và số liên lạc đến thiết bị Mac OS X.
- Bắn ảnh, video, ghi chú và số liên lạc đến các thiết bị và hệ điều hành khác.
- Bắn tài liệu từ các ứng dụng khác thông qua chức năng "mở trong ứng dụng khác".
- Phát các tệp tin, ảnh hoặc ghi chú tới các thiết bị được kết nối.
- Thiết lập ảnh, ghi chú và tài liệu khác ở chế độ tự hủy.
- Lưu ảnh đã nhận được vào thư viện thiết bị.
- Cho phép chụp ảnh hoặc quay video trực tiếp trong ứng dụng.
- Lưu tài liệu đã nhận thông qua chức năng "Open In".
- Dán ảnh hoặc tệp tin sao chép trên Flicktop để bắn sang thiết bị khác.
- Sao chép từ Flicktop sang các ứng dụng khác.
- Chọn hình nền cá nhân cho Flicktop.
- Hỗ trợ chơi cờ ca rô với những người dùng Flick khác.
Người dùng có thể liên hệ trực tiếp với nhà phát hành để gửi phản hồi, báo lỗi hay đề xuất tính năng mới cho các phiên bản sau.
Ubuntu là một hệ điều hành mã nguồn mở xây dựng xung quanh nhân Linux. Có đầy đủ chức năng của một hệ điều hành hiện đại, hoạt động tốt trên máy tính để bàn, máy tính xách tay và hệ thống máy chủ.
Cho dù bạn sử dụng ở nhà, ở trường hay ở nơi làm việc thì Ubuntu có chứa tất cả các ứng dụng cần thiết, bao gồm xử lý văn bản, email, phần mềm server web và công cụ lập trình.
Ubuntu là hệ điều hành hoàn toàn miễn phí, bạn có thể tải về, sử dụng và chia sẻ Ubuntu với gia đình, bạn bè, trường học, công ty…
Các tính năng:
- Trình duyệt Web:
Ubuntu có mọi thứ bạn cần để duyệt web nhanh chóng và an toàn.
- Ứng dụng văn phòng:
Tạo tài liệu chuyên môn, bảng tính và bài thuyết trình rất nhanh chóng. LibreOffice rất dễ sử dụng có đầy đủ tính năng bạn cần và hoàn toàn miễn phí.
- Ứng dụng Email:
Empathy giúp bạn tích hợp với tài khoản chat của mình. Thunderbird bạn có thể truy cập email, sổ địa chỉ và lịch.
- Âm nhạc và điện thoại di động:
Có thể nghe, tạo và chỉnh sửa nhạc MP3 trên máy tính và điện thoại di động, mua nhạc trong Ubuntu One Music Store hoặc kết nối với Spotify và Last.fm.
- Hình ảnh và video:
Giúp bạn quản lý, chỉnh sửa, chia sẻ hình ảnh và video.
- Ubuntu Software Centre:
Là nơi bạn tha hồ lựa chọn ứng dụng theo sở thích và công việc của mình. Chọn Google Chrome để duyệt web thay cho Firefox, chọn ứng dụng để nghe nhạc, chơi game, học tập,...
- Ubuntu One:
+ Dịch vụ lưu trữ theo mô hình điện toán đám mây của Ubuntu giúp bạn dễ dàng đồng bộ dữ liệu của mình và truy cập nó từ bất cứ nơi đâu, đồng bộ văn bản, tài liệu giữa máy tính với thiết bị di động. Chia sẻ dữ liệu an toàn, tin cậy với bạn bè, đồng nghiệp.
+ Ubuntu One giờ đây tương thích tốt hơn với Nautilus, cho phép xuất bản thư mục, tập tin. Rhythmbox cũng có thể chia sẻ liên kết âm nhạc trong Ubuntu One Music Store thông qua nút "share this".
Tuyết Mai
HƯỚNG DẪN
Hướng dẫn cài đặt:
- Nếu hộp thông báo như sau xuất hiện, nhấn vào nút “Continue” để tiến hành cài đặt.
- Để cài đặt Ubuntu, chọn username và password. Lưu ý phải nhập mật khẩu 2 lần để chắc chắn rằng bạn đã nhập chính xác.
Sau khi chọn mật khẩu, nhấp vào “Install” các tập tin sẽ được tải về và cài đặt tự động.
- Chờ cho đến khi Ubuntu tải về và cài đặt. Lưu ý toàn bộ quá trình có thể mất một thời gian, kích thước tập tin tải về là 700MB.
- Khi quá trình cài đặt hoàn tất, bạn sẽ được thông báo khởi động lại máy tính của bạn. Nhấp vào “Finish” để khởi động lại.
- Sau khi khởi động lại máy tính chọn “Ubuntu” từ menu khởi động.
1. FTP là gì ???
FTP (File Transfer Protocol) là một giao thức trong mô hình TCP/IP được dùng để truyền các file giữa các máy. FTP cho phép truyền nhận file và quản lý trực tuyến. FTP không cho phép truy xuất một máy khác để thực thi chương trình, nhưng nó rất tiện lợi cho việc thao tác với file.
2. Cài đặt và cấu hình FTP Server
2.1 Cài đặt
Các gói phần mềm cần thiết:
Vsftpd-*.rpm.
Dấu * đại diện cho phiên bản.
Kiểm tra cho thấy gói dịch vụ đã được cài đặt:
[root@centos_server /]# rpm -qa | grep vsftpd
vsftpd-2.0.1-8.el4
Các file cấu hình cần thiết của dịch vụ FTP:
/etc/vsftpd/vsftpd.conf : File cấu hình chính chứa những tùy chọn cấu hình cho FTP server.
/etc/vsftpd.ftpusers : Chứa danh sách những user không được phép đăng nhập vào server qua dịch vụ ftp bao gồm (root, bin, nobody, daemon …). Vì vấn đề bảo mật trên hệ thống Linux, dịch vụ ftp không cho phép người dùng root và một số người dùng đặc biệt khác đăng nhập để sử dụng dịch vụ ftp.
/etc/vsftpd.user_list : Được sử dụng để cho phép hay từ chối truy cập đến danh sách user. Nó phụ thuộc vào giá trị của userlist_deny trong file vsftpd.conf.
/usr/sbin/vsftpd : File thực thi và cũng chính là deamon.
/var/ftp : Thư mục làm việc của FTP.
/var/ftp/pub : Thư mục chứa những file của user anonymous.
2.2 Cấu hình FTP trên Linux
Đầu tiên, ta xem qua một vài thông số cấu hình trên file /etc/vsftpd/vsftpd.conf:
anonymous_enable=YES : cho phép người dùng Anonymous login qua ftp (mặc định). Nếu chúng ta muốn chỉ cho phép người dùng cục bộ trên hệ thống login qua ftp thì đổi lại YES thành NO.
local_enable=YES : cho phép mọi người dùng cục bộ login qua ftp (mặc định).
Write_enable=YES : Cho phép người dùng khi login qua ftp có quyền ghi (mặc định).
anon_upload_enable=YES : không cho phép người dùng Anonymous upload file qua ftp. Nếu chúng ta muốn cho phép người dùng Anomymous upload file qua ftp thì bỏ ký tự # ở đầu đi. Chú ý: chúng ta phải để anonymous_enable=YES thì option này mới có giá trị.
anon_mkdir_write_enable=YES : không cho phép người dùng Anonymous có quyền tạo thư mục.
Connect_from_port_20=YES : cho phép kết nối với dịch vụ ftp thông qua port 20.
Anon_usmask=022 : cho phép người dùng nặc danh upload file lên và download file đó về.
Userlist_enable=YES : Cấm những user liệt kê trong file /etc/vsftpd.user_list login vào FTP Server.
[root@centos_server /]# service vsftpd start
Starting vsftpd for vsftpd: [ OK ]
[root@centos_server /]# chkconfig vsftpd on
Kiểm tra dịch vụ đã hoạt động:
[root@centos_server /]# pgrep vsftpd
11847 ================ Thông số cho thấy dịch vụ đã hoạt động tốt.
Để các máy Client có thể truy cập vào máy Server thông qua dịch vụ FTP, cần phải đảm bảo port 21 trên Server đã mở.
Thêm dòng lệnh sau vào file /etc/sysconfig/iptables để mở Port 21 trên Server:
-A RH-Firewall-1-INPUT -m state --state NEW -m tcp -p tcp --dport 21 -j ACCEPT
Khởi tạo lại Service iptables.
[root@centos_server /]# service iptables restart
Flushing firewall rules: [ OK ]
Setting chains to policy ACCEPT: filter [ OK ]
Unloading iptables modules: [ OK ]
Applying iptables firewall rules: [ OK ]
Kiểm tra xem port 21 đã được mở hay chưa:
[root@centos_server /]# iptables -L -n
Trên máy Client, thử kết nối đến server thông qua dịch vụ ftp bằng user Anonymus:
| Kết nối Server |
Mặc định user Anonymous không cần mật khẩu khi login.
Tạo một user để kiểm tra dịch vụ:
[root@centos_server /]# useradd test_ftp
[root@centos_server /]# passwd test_ftp
Changing password for user test_ftp.
New UNIX password:
BAD PASSWORD: it is too simplistic/systematic
Retype new UNIX password:
passwd: all authentication tokens updated successfully.
- Sau đó ta login lại bằng User vừa tạo.
Tuy nhiên, nếu ta thử login bằng tài khoản root, việc kết nối sẽ thất bại. Để đảm bảo tính bảo mật, mặt định user root không được đăng nhập thông qua dịch vụ FTP:
Để cho phép user root hoạt động, chúng ta cần cấu hình trong cả hai file /etc/vsftpd.ftpusers và /etc/vsftpd.user_list. Thêm dấu # vào trước user root.
Việc làm này có ý nghĩa là chúng ta đã loại bỏ user root ra khỏi danh sách cấm của dịch vụ FTP.
Chúng ta có thể làm tương tự với những user khác.
Đồng thời, thông qua hai file này, chúng ta cũng có thể cấm một user nào đó không được login thông qua dịch vụ FTP, chỉ bằng cách đơn giản là thêm user đó vào cả 2 file này.
Thao tác với hệ thống file thông qua dịch vụ FTP:
Thư mục Home của user khi login vào Server thông qua dịch vụ FTP chính là thư mục home của user đó trên Server. Riêng đối với user anonymous, thư mục home chính là thư mục /var/ftp/pub.